Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 390/2024/HS-ST

Ngày: 15 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 362/2024/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 462/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thanh T, sinh năm: 2001, tại tỉnh Vĩnh Long; nơi thường trú: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Quán Â, Đường F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Võ Quốc C, sinh năm 1982 và bà Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1981; bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 anh em; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

· Bị hại: Em Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 2009, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Thúy O, sinh năm 1972, có mặt.

Địa chỉ: D K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị H – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ lý pháp lý Nhà nước Thành phố H.

Địa chỉ: D N, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9/2022, Lê Thanh T có quen biết với em Nguyễn Thị Kim N (sinh ngày 08/8/2009) qua mạng xã hội Facebook và nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau. Đến ngày 26/11/2022, T tổ chức sinh nhật và rủ N đến phòng trọ của T tại địa chỉ: 1 Tỉnh lộ 43, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ăn và uống bia. Sau khi nhậu xong, TN lên trên gác của phòng trọ để quan hệ tình dục với nhau 01 lần. Đến khoảng tháng 2/2023 (không nhớ rõ ngày giờ), TN tiếp tục ăn nhậu cùng nhau tại phòng trọ của T ở địa chỉ trên và lên trên gác của phòng trọ quan hệ tình dục với nhau thêm 01 lần nữa. Khoảng tháng 3/2023, N thông báo cho T biết N đã mang thai. Đến ngày 08/12/2023, Ngọc sinh được 01 bé gái đặt tên là Nguyễn Ngọc K V và đi làm giấy khai sinh tại Ủy ban nhân dân phường L thì cán bộ Ủy ban phát hiện N sinh con khi mới chỉ hơn 14 tuổi nên trình báo sự việc cho Công an phường L.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã mời Lê Thanh T lên trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 22/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y Sở Y tế Thành phố H giám định tình trạng xâm hại tình dục đối với Nguyễn Thị Kim N, kết quả như sau:

Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 216/KLTDTE-TTPY.2023 ngày 08/01/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận:

  • - Màng trinh: Rách cũ màng trinh tại vị trí 7 giờ, kèm teo mép màng trinh từ vị trí 5 giờ đến 7 giờ.
  • - Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn.
  • - Không hiện diện AND người nam trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn.

Kết quả trưng cầu giám định ADN:

Ngày 22/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y Sở Y tế Thành phố H giám định ADN để xác định Lê Thanh T có phải là người cha sinh học của Nguyễn Ngọc K V không, kết quả như sau:

Tại bản kết luận giám định ADN số 1.316-2023/KLGDADN-TTPY.2023 ngày 03/01/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố H, kết luận: Lê Thanh T là người cha sinh học của Nguyễn Ngọc Khánh V1.

Qua thu thập giấy khai sinh xác định bị hại Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08/8/2009 (ngày tám, tháng tám, năm hai nghìn không trăm linh chín). Như vậy, tính đến thời điểm xảy ra vụ việc là ngày 26/11/2022 thì bị hại đã được 13 tuổi 03 tháng 18 ngày.

Vật chứng thu giữ: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Em Nguyễn Thị Kim N và mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Thúy O đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Thanh T và không yêu cầu bị cáo Lê Thanh T bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 363/CT-VKSTPTĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Thanh T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý với kết luận giám định ADN và không tranh luận.

Luật sư Nguyễn Thị H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có ý kiến tranh luận:

Luật sư thống nhất với về tội danh, luận tội và mức hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị với bị cáo. Trong vụ án này, mặc dù Luật sư được chỉ định để bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, tuy nhiên, Luật sư thấy rằng hành vi của bị cáo xuất phát từ quan hệ tình cảm, do thiếu hiểu biết, không am hiểu pháp luật nên bị cáo và bị hại đã quan hệ với nhau khi bị hại chưa đủ tuổi dẫn đến việc bị hại có thai và đã sinh con. Cháu bé sinh ra bị dị tật bẩm sinh, hở hàm ếch nhưng bị cáo cùng gia đình đã luôn quan tâm, yêu thương và tìm cách để chữa trị cho cháu. Vì vậy, xuất phát từ ý kiến của bị hại và mẹ bị hại, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình, phụ bị hại chăm sóc, nuôi dưỡng cháu bé.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, bị cáo và N yêu nhau và tự nguyện quan hệ dẫn đến có con. Hiện nay con bị cáo còn rất nhỏ lại bị dị tật bẩm sinh, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình, đi làm nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, kết luận giám định, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Do phát sinh tình cảm yêu thương với em Nguyễn Thị Kim N nên T đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục nhiều lần với em N tại phòng trọ của T tại địa chỉ: 1 Tỉnh lộ 43, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh khi em N chưa đủ 16 tuổi, làm em N có thai và sinh con vào ngày 08/12/2023.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến đời sống, sức khỏe tình dục và sự phát triển bình thường của trẻ em được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù có tình cảm yêu đương với N nhưng không tìm hiểu kỹ độ tuổi nên đã quan hệ tình dục với em N khi N chưa đủ 16 tuổi, làm em N có thai và đã sinh con. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo và N thừa nhận giao cấu 02 lần dẫn đến N đã có thai và sinh con chung của bị cáo và N nên thuộc trường hợp quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, bị hại đã có đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc về các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, hoàn cảnh gia đình và cũng như nguyên nhân và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:

  • - Em Nguyễn Thị Kim N và mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Thúy O đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Thanh T và không yêu cầu bị cáo Lê Thanh T bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Tại phiên tòa, bị hại và gia đình không yêu cầu bị cáo cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, Luật sư bảo về quyền và lợi ích của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Lê Thanh T: 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • - Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự; Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 390/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 390/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với Lê Thanh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger