Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 390/2023/HS-ST

Ngày 27 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị An

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành

2. Ông Trần Xuân Viện

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Ngọc Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 376/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 388/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh Q, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2004; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Trần Văn T, sinh năm 1983; con bà: Trương Thị H, sinh năm 1984; gia đình có 02 anh em. Bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/10/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

  • + Anh Tô Thiết T1, sinh năm 2005
  • Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)
  • + Cháu Nguyễn Hồng Q1, sinh năm 2007 ( có mặt).
  • Người đại diện hợp pháp của cháu Q1: Bà Vũ Thị T2, sinh năm 1983 (mẹ đẻ) (có mặt)
  • Cùng địa chỉ: Xóm Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
  • + Anh Bùi Công Q2, sinh năm 2004 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • + Cháu Nguyễn Mạnh T3, sinh năm 2007 (có mặt)
  • Người đại diện hợp pháp của cháu T3: Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1987 (mẹ đẻ) (có mặt)
  • Cùng địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

- Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Đức H1, sinh năm 1967

Địa chỉ: TDP G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 11/9/2023, tổ công tác của Công an phường Đ, thành phố T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực Tổ dân phố G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện 04 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, 04 nam thanh niên lần lượt khai họ tên là: Nguyễn Hồng Q1 (sinh năm: 2007, HKTT: xóm Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên); Bùi Công Q2 (sinh năm: 2004, HKTT: xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên); Nguyễn Mạnh T3 (sinh năm: 2007, HKTT; xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên); Trần Minh Q (sinh năm: 2004, HKTT: Tổ dân phố G, Thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên). Qua kiểm tra đối với Nguyễn Hồng Q1; Bùi Công Q2; Nguyễn Mạnh T3, tổ công tác không phát hiện thu giữ gì liên quan đến ma tuý. Kiểm tra đối với Trần Minh Q, tổ công tác phát hiện tại túi quần bên trái phía trước Q đang mặc có 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa mẫu thực vật khô cắt nhỏ màu nâu; phát hiện tại túi quần bên phải phía trước Q đang mặc 30 túi nilon màu trắng kích thước 2 x 5cm, chưa qua sử dụng. Q khai nhận đó là gói ma tuý cỏ Mỹ của Q đặt mua trên mạng xã hội Telegram vào ngày 5/9/2023 với giá 1.700.000₫ mục đích bán kiếm lời. Ngoài ra tổ công tác không phát hiện thêm gì khác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 12/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành cân xác định khối lượng như sau: Toàn bộ số thực vật khô cắt nhỏ trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 42,006 gam, lấy toàn bộ đưa vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 6782 ngày 11/10/2023 của V Bộ C kết luận:

- Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA và chất ma túy 5F-MDMB-PINACA trong mẫu thực vật khô cắt nhỏ ký hiệu Al gửi giám định.

- Hàm lượng và khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu thực vật khô cắt nhỏ ký hiệu A1 gửi giám định lần lượt là 0,3% và 0,126 gam.

- V hiện chưa có mẫu chuẩn định lượng 5F-MDMB-PINACA nên không thể xác định được hàm lượng, khối lượng chất ma túy 5F-MDMB-PINACA trong mẫu thực vật khô cắt nhỏ ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại cơ quan điều tra, Trần Minh Q trình bày: Ngày 05/9/2023, Q đi từ nhà xuống khu vực phường Đ, thành phố T để thuê phòng trọ. Sau khi thuê được phòng trọ, Q sử dụng ứng dụng Telegram trên điện thoại di động nhắn tin với chủ tài khoản tên “Tobaco” mục đích để mua ma túy cỏ Mỹ về bán kiếm lời. Chủ tài khoản đồng ý bán ma túy cho Q với giá 1.700.000 đồng, sau đó Q đi về phòng trọ. Sáng ngày 07/9/2023 Q đến tiệm T6 ở phường Đ, thành phố T và mua 10.000 đồng các túi nilon màu trắng có kích thước 2 x 5cm mục đích để chia nhỏ ma túy bán kiếm lời. Đến khoảng 10 giờ ngày 07/9/2023 thì Nguyễn Hồng Q1, Nguyễn Mạnh T3, Bùi Công Q2 đến ở phòng trọ của Q2 chơi và ngủ nhờ tại đây. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07/9/2023 thì có một nam thanh niên không quen biết liên lạc với Q2 hẹn đến khu vực đầu cầu G, phường Đ, thành phố T để lấy ma túy cỏ Mỹ và bảo Q2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của người này. Do không có tài khoản ngân hàng nên Q2 đã nhờ một người đàn ông trong quán internet ở khu vực đường B, phường H nhờ chuyển khoản số tiền 1.700.000 đồng đến tài khoản của người bán ma túy như đã thỏa thuận rồi Q2 đưa trả cho người này số tiền 1.700.000 đồng tiền mặt. Sau đó Q2 đi bộ đến khu vực đầu cầu G, phường Đ, thành phố T theo như đã hẹn để lấy ma túy. Tại đây, Q2 gặp và lấy được của một người Q2 không biết từ trước 01 túi ma túy cỏ Mỹ được gói bên ngoài bằng gói nilon màu trắng chứa các sợi thực vật khô màu nâu. Mua được ma túy, Q2 mang về cất giấu tại phòng trọ và lấy một ít ra để dùng thử. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/9/2023, Q2 đã bán cho Tô Thiết T1 (sinh năm 2005, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) 02 túi ma túy cỏ Mỹ với giá 150.000 đồng. Đến khoảng 7 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, theo Q2 khai tiếp tục bán cho một nam thanh niên tên T5 không quen biết (không rõ lai lịch địa chỉ) 01 túi ma túy nhỏ cỏ Mỹ với giá 100.000 đồng. Ngày 10/9/2023, Trần Minh Q cùng Nguyễn Hồng Q1, Nguyễn Mạnh T3, Bùi Công Q2 trả phòng trọ rồi lang thang ngủ lại khu vực ghế đá ở phường Đ, thành phố T. Đến sáng ngày 11/9/2023 thì bị tổ công tác của Công an phường Đ phát hiện kiểm tra và lập biên bản sự việc như trên.

Nguyễn Hồng Q1, Nguyễn Mạnh T3, Bùi Công Q2 khai nhận chỉ đến phòng của Trần Minh Q chơi và ngủ nhờ. Quá trình ở lại cả ba người không biết Q mua ma túy về cất giấu tại phòng trọ và không sử dụng ma túy.

Vật chứng:

  • - 01 bì niêm phong đúng quy định số 6782/KL-KTHS (bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu).
  • - 01 bì niêm phong đúng ký hiệu B (bên trong chứa 30 túi nilon màu trắng kích thước 2x5cm).

Hiện số vật chứng trên được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 371/CT-VKSTPTN ngày 27/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Minh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: Trần Minh Q từ 30 đến 36 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5 đến 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 6782/KL-KTHS (bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu B (bên trong chứa 30 túi nilon màu trắng kích thước 2x5cm).

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.

Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

Hồi 10 giờ ngày 11/9/2023, tại khu vực tổ dân phố G, phường Đ, thành phố T, Trần Minh Q có hành vi tàng trữ chất ma túy MDMB-4en-PINACA có hàm lượng và khối lượng lần lượt là 0,3% và 0,126 gam và chất ma túy 5F-MDMB-PINACA mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác của Công an phường Đ, T, lập biên bản sự việc và thu giữ niêm phong vật chứng.

Quá trình điều tra xác định, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/9/2023, tại khu vực tổ dân phố G, phường Đ, thành phố T, Trần Minh Q có hành vi bán 02 túi ma túy cỏ Mỹ bên trong có chứa mẫu thực vật khô cắt nhỏ chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA và chất ma túy 5F-MDMB-PINACA cho Tô Thiết T1 (sinh năm 2005, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, với lời khai của người làm chứng, của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương.Vì vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo Trần Minh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo cất giữ ma túy nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[4]. Vật chứng của vụ án:

Đối với 01 bì niêm phong số 6782 bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu và 01 bì niêm phong ký hiệu B (bên trong chứa 30 túi nilon màu trắng kích thước 2 x 5cm là vật chứng của vụ án, không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền 150.000đ bị cáo bán ma tuý cho T1, bị cáo khai đã tiêu xài cá nhân hết. Xét thấy, só tiền này do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 100.000₫ mà bị cáo khai bán cho T5, do không có căn cứ chứng minh việc mua bán với T5 nên không đủ cơ sở xử lý số tiền này.

Đối với chiếc điện thoại mà bị cáo sử dụng để liên hệ mua ma tuý, bị cáo khai đã làm mất, cơ quan điều tra không thu giữ được nên không có cơ sở để xử lý.

[5] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Trong vụ án này, về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, Q khai đặt mua trên mạng xã hội qua ứng dụng Telegram có tên tài khoản là “Tobaco” và nhận ma túy từ một người không quen biết ở khu vực cầu G, phường Đ, thành phố T, do không xác định được lai lịch của người có tài khoản trên mạng xã hội và người đã giao ma túy cho bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra để xử lý.

Đối với người đàn ông trong quán internet ở khu vực đường B, phường H, thành phố T, quá trình điều tra Trần Minh Q khai không biết tên tuổi địa chỉ của người này và người này không biết việc Q nhờ chuyển tiền để mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Đối với Tô Thiết T1 là người đã mua 02 túi ma túy cỏ Mỹ của bị cáo ngày 07/9/2023 với giá 150.000 đồng nhưng đã làm mất chưa kịp sử dụng. Quá trình điều tra không thu giữ được số ma túy trên và không có tài liệu chứng minh việc T1 đã sử dụng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với T1.

Đối với nam thanh niên tên T5 là người mà Trần Minh Q khai đã bán 01 túi ma túy cỏ Mỹ với giá 100.000 đồng vào ngày 08/9/2023, quá trình điều tra, cơ quan điều tra không xác minh được nhân thân lai lịch của người này, không có tài liệu chứng minh việc mua bán ma túy giữa Q và T5 nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Hồng Q1, Bùi Công Q2, Nguyễn Mạnh T3 là những người đã đến phòng trọ của bị cáo Q2 nhưng những người này đều khai không biết Q2 cất giữ và mua bán ma tuý, bị cáo cũng xác định những người này chỉ đến chơi, không biết bị cáo cất giữ và mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Q phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Minh Q 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì niêm phong số 6782/KL-KTHS, 01 bì niêm phong ký hiệu A2, 01 bì niêm phong ký hiệu B.

(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 50 ngày 11/12/2023 giữa cơ quan Công an T và Chi cục Thi hành án dân sự TP Thái Nguyên).

Tịch thu của bị cáo Trần Minh Q số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) sung quỹ Nhà nước.

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Trần Minh Q chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. .

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh TN;
  • - TAND tỉnh TN;
  • - TTG Công an tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TPTN;
  • - Công an TPTN;
  • - Chi cục THADS TPTN;
  • - UBND TT Hoá Thượng, H.Đồng Hỷ, TN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Thị An

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 390/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 390/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Minh Quang phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Trần Minh Quang 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger