Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 39/2024/DS-ST

Ngày 31-5-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

và thẻ tín dụng"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Xuân Quang;

Bà Trần Thị Khuyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 42/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N;

Địa chỉ: B - B đường C, phường D, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc T – Chỉ tịch Hội đồng quản trị;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Minh D; ông Lê Ngọc T1 – Chuyên viên xử lý nợ thuộc Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP N;

Địa chỉ: SR18-SR19 Trung tâm thương mại Q1, GN, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định (theo Giấy uỷ quyền ngày 28/4/2024).

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Bảo T2, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà Phạm Thị Bảo T2 vắng mặt lần hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 02/3/2022 của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần N trình bày:

Bà Phạm Thị Bảo T2 có quan hệ tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần N theo 02 hợp đồng tín dụng, cụ thể:

Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0141/2018/918-CV ký ngày 16/4/2018 và Giấy nhận nợ số 01/GNN-0141/2018/918-CV ký ngày 17/4/2018 với số tiền vay như sau:

  • Số tiền vay: 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng);
  • Lãi suất: 12%/năm, thay đổi 03 tháng/lần;
  • Mục đích vay: Vay mua bất động sản.

Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng tín dụng thẻ số: 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018 để vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần N tại Phòng G, Thành phố Hồ Chí Minh;

Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ số 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018:

  • Số khế ước: 6918038805100010;
  • Hạn mức tín dụng thẻ: 100.000.000 đồng;
  • Mục đích sử dụng: Tiêu dùng;
  • Thời hạn sử dụng hạn mức thẻ tín dụng: Bằng thời hạn sử dụng thẻ và ghi trên thẻ;
  • Thời hạn vay: Theo Bản các Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của N1;

Tài sản đảm bảo cho các khoản vay là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 04, tại khu phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị Bảo T2.

Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng nêu trên bà Phạm Thị Bảo T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N, vì vậy Ngân hàng N đã thực hiện việc khởi kiện ra Toà án để yêu cầu Toà án giải quyết:

Tuyên buộc bà Phạm Thị Bảo T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo các Hợp đồng tín dụng đã ký, tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 3.184.794.927 đồng, trong đó:

Nợ gốc: 1.473.191.458 đồng (nợ gốc hợp đồng tín dụng 1.376.000.000 đồng và nợ gốc thẻ tín dụng 97.191.458 đồng).

Nợ lãi: 1.711.603.469 đồng. Trong đó: Tiền lãi đối với hợp đồng tín dụng (lãi trong hạn 157.913.928 đồng, lãi quá hạn 1.264.625.557 đồng, tiền phạt chậm trả lãi 79.049.725 đồng); tiền lãi đối với thẻ tín dụng (lãi quá hạn 210.014.258 đồng).

Trong thời gian chưa thanh toán nợ, bà Phạm Thị Bảo T2 vẫn phải chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

Khi Bản án/Quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, bà Phạm Thị Bảo T2 vẫn không trả nợ theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đã ký, thì Ngân hàng TMCP N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0071/2018/918-BĐ ký ngày 16/04/2018 để thu hồi nợ, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 04, diện tích thế chấp 302,3 m² (ba trăm linh hai phẩy ba mét vuông) tại địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Chủ sở hữu/sử dụng tài sản: Bà Phạm Thị Bảo T2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CN 535146, số vào số cấp GCN số CS 06642, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 13/04/2018.

Đối với bị đơn bà Phạm Thị Bảo T2: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định tại các Điều 177 và 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bà T2 không đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải, nên không ghi nhận được ý kiến của bà T2. Do đó Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N đối với bà Phạm Thị Bảo T2.

Buộc bà Phạm Thị Bảo T2 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N với số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024 là 3.184.794.927 đồng (trong đó nợ gốc: 1.473.191.458 đồng; nợ lãi: 1.711.603.469 đồng) và từ ngày 01/6/2024 đến ngày bà T2 trả hết nợ cho ngân hàng. Nếu bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ngân hàng Thương mại cổ phần N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị Bảo T2 ở thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0141/2018/918-CV ký ngày 16/4/2018 với số tiền nợ gốc là 1.400.000.000 (một tỷ bốn trăm triệu) đồng, lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng và mục đích vay để mua bất động sản; Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ số 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018, số khế ước 691803880500010, mục đích sử dụng: Tiêu dùng. Do đó Tòa án xác định đây là quan hệ tranh chấp dân sự, cụ thể là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng” quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Phạm Thị Bảo T2 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do; đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Minh D, Lê Ngọc T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0141/2018/918-CV ký ngày 16/4/2018, Giấy nhận nợ số 01/GNN-0141/2018/918-CV ký ngày 17/4/2018 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Phạm Thị Bảo T2 có vay vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần N với hạn mức số tiền vay 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng); mục đích vay: mua bất động sản; giải ngân ngày 17/4/2018; thời hạn vay: 180 tháng (ngày đến hạn 17/04/2033); lãi suất 12%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng Thương mại cổ phần N quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần với mức lãi suất được tính theo công thức: Lãi suất điều chỉnh bằng (=) lãi suất cơ sở (%/năm) cộng (+) 4,3%/năm, (trong đó: Lãi suất cơ sở (%/năm) là lãi suất huy động tiết kiệm thông thường dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ của loại tiền tương ứng với loại tiền cho vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần N công bố và có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 17/7/2018; tài sản bảo đảm: Thửa số 26, tờ bản đồ số 04, địa chỉ: khu phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Diện tích 302,3 m² (ba trăm lẻ hai phẩy ba mươi mét vuông). Hình thức sử dụng: sử dụng riêng. Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị 200 m², đất trồng cây lâu năm 102,3 m². Thời hạn sử dụng đất: đất ở tại nông thôn lâu dài, đất trồng cây lâu năm 15/6/2065. Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất 200m², nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất 102,3m². Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CN 535146, Số vào số cấp GCN: CS06642 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 13/4/2018 thuộc sở hữu của bà Phạm Thị Bảo T2, trị giá 2.070.000.000 đồng (hai tỷ không trăm bảy mươi triệu đồng).

[3.2] Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng tín dụng thẻ số: 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018 để vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần N tại Phòng G. Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ số 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Phạm Thị Bảo T2 có vay thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần N với hạn mức tín dụng thẻ 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); Số khế ước: 6918038805100010; mục đích sử dụng: Tiêu dùng; thời hạn sử dụng hạn mức thẻ tín dụng: Bằng thời hạn sử dụng thẻ và ghi trên thẻ; thời hạn vay: Theo Bản các Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của N1 Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ số 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018; tài sản bảo đảm là thửa đất số 26, tờ bản đồ số 04, khu phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; lãi suất và phí: theo Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của N1.

Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Mặc dù Ngân hàng Thương mại cổ phần N đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để bà T2 trả nợ, nhưng bà T2 vẫn không thực hiện. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết nên nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị Bảo T2 phải trả toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 31/5/2024 tổng cộng là 3.184.794.927 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 1.473.191.458 đồng (nợ gốc hợp đồng tín dụng 1.376.000.000 đồng và nợ gốc thẻ tín dụng 97.191.458 đồng). Nợ lãi: 1.711.603.469 đồng. Trong đó: Tiền lãi đối với hợp đồng tín dụng (lãi trong hạn 157.913.928 đồng, lãi quá hạn 1.264.625.557 đồng, tiền phạt chậm trả lãi 79.049.725 đồng); tiền lãi đối với hợp đồng tín dụng thẻ (tiền lãi quá hạn 210.014.258 đồng) và từ ngày 01/6/2024 đến ngày bà T2 trả hết nợ cho ngân hàng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

[4] Xét hợp đồng thế chấp tài sản số 0071/2018/918-BĐ ngày 16/4/2018 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N, Chi nhánh T4, Phòng G với bà Phạm Thị Bảo T2.

Xét về hình thức hợp đồng: Hợp đồng được lập thành văn bản, được chứng thực đúng quy định của pháp luật.

Xét về nội dung hợp đồng: Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0141/2018/918-CV ký ngày 16/4/2018, Giấy nhận nợ số 01/GNN-0141/2018/918-CV ký ngày 17/4/2018, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng tín dụng thẻ số: 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018 thì bà Phạm Thị Ngọc T3 đã thế chấp tài sản gồm: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số phát hành CN 535146, Số vào số cấp GCN: CS06642 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 13/4/2018. Diện tích: 302,3m², thuộc thửa số 26, tờ bản đồ số 04, thuộc khu phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh do bà Phạm Thị Bảo T2 đứng tên sử dụng.

Theo biên bản về việc xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/12/2023 Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tiến hành thẩm định, định giá tài sản trên thửa đất 26, tờ bản đồ số 04, thuộc khu phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh do bà Phạm Thị Bảo T2 đứng tên sử dụng theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số phát hành CN 535146, Số vào số cấp GCN: CS06642 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 13/4/2018. Kết quả định giá như sau:

  • Phần đất thế chấp có giá trị theo Quyết định số 35/2020/QĐ-UBND ngày 01/9/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh T, giá đất ở đô thị 2.000.000 đồng/m2; giá đất nông nghiệp 450.000 đồng/m².
  • Giá đất thực tế 300.000.000 đồng/mét ngang.
  • Trên đất có 01 cây dừa có trái, còn lại hiện trạng là đất trống, các đương sự không yêu cầu Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản nào khác.
  • Tài sản trên đất: 01 cây dừa có trái giá 600.000 đồng.

Đối chiếu với cam kết thế chấp, hợp đồng thế chấp tài sản thể hiện có chữ ký của bà Phạm Thị Bảo T2, xét thấy, các bên giao kết hợp đồng là tự nguyện và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hình thức, nội dung, đúng quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm. Căn cứ vào khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án công nhận hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N và bà Phạm Thị Bảo T2 là có thật và hợp pháp. Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần N yêu cầu trường hợp bà Phạm Thị Bảo T2 không có khả năng thanh toán được nợ theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0141/2018/918-CV ký ngày 16/4/2018, Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng tín dụng thẻ số: 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018 thì yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi khoản nợ trên cũng là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.

[5] Đối với bị đơn bà Phạm Thị Bảo T2 đã cố tình vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến, không cung cấp chứng cứ, nên Tòa án căn cứ vào những chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và những tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được để xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ những phân tích và nhận định trên, có cơ sở để Hội đồng xét xử buộc bị đơn bà Phạm Thị Bảo T2 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N tổng dư nợ gốc và lãi suất tính đến hết ngày 31/5/2024 tổng cộng là 3.184.794.927 đồng (trong đó nợ gốc: 1.473.191.458 đồng; nợ lãi: 1.711.603.469 đồng).

[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số nợ phải trả 3.184.794.927 đồng là 72.000.000 đồng + (1.184.794.927 x2% = 23.695.899 đồng) = 95.695.899 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

[8] Chi phí tố tụng khác: Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.400.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng 2.400.000 đồng. Bà T2 có trách nhiệm hoàn lại cho Thương mại cổ phần N số tiền đã tạm ứng nói trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 117, 299, 317, 319, 320, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 4 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N.

Buộc bị đơn bà Phạm Thị Bảo T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0141/2018/918-CV ký ngày 16/4/2018, Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng tín dụng thẻ số: 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018 đến hết ngày 31/5/2024 tổng cộng là 3.184.794.927 đồng (ba tỷ một trăm tám mươi tư triệu bảy trăm chín mươi tư nghìn chín trăm hai mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.473.191.458 đồng; nợ lãi: 1.711.603.469 đồng.

2. Về án phí:

2.1. Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn Phạm Thị Bảo T2 phải chịu 95.695.899 (chín mươi lăm triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi chín) đồng.

2.2. Hoàn trả 38.411.061 (ba mươi tám triệu, bốn trăm mười một nghìn không trăm sáu mươi mốt) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0035563 ngày 13/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N.

3. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ bà Phạm Thị Bảo T2 phải chịu 2.400.000 (hai triệu bốn trăm nghìn) đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần N đã dự nộp xong. Bà Phạm Thị Bảo T2 có trách nhiệm hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 2.400.000 (hai triệu bốn trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

4.1. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà T2 vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

4.2. Trường hợp bà T2 không thanh toán được nợ theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0141/2018/918-CV ký ngày 16/4/2018, Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng tín dụng thẻ số: 0194/2018/918-CV ký ngày 16/5/2018 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Số phát hành CN 535146, Số vào số cấp GCN: CS06642 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 13/4/2018. Diện tích: 302,3m², thuộc thửa số 26, tờ bản đồ số 04, thuộc khu phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh do bà Phạm Thị Bảo T2 đứng tên sử dụng.

4.3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tinh;
  • - Các bên đương sự;
  • - CC THADS huyện Hoài Ân;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng

  • Số bản án: 39/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á; Địa chỉ: 201 – 203 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 4, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc Toàn – Chỉ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Minh Dương; ông Lê Ngọc Tâm – Chuyên viên xử lý nợ thuộc Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP Nam Á; Địa chỉ: SR18-SR19 Trung tâm thương mại Quy Nhơn, 07 Nguyễn Tất Thành, phường Lý Thường Kiệt, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (theo Giấy uỷ quyền ngày 28/4/2024). - Bị đơn: Bà Phạm Thị Bảo Tuyết, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn Thạch Long 1, xã Ân Tường Đông, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger