Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 30-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Văn Trạng;
  • 2. Ông Nguyễn Trần Quyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Lam Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Phan Thanh A, sinh ngày 01/01/1998 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phan Văn N, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1977; gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Chưa có; tạm giữ: Ngày 06/6/2024; tạm giam: từ ngày 12/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Phạm Bạch H, sinh năm 1981 (có mặt);

    Nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983 (có mặt);

    Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Hoàng Văn S, sinh năm 1955 (vắng mặt);

    Nơi cư trú: Số B BIS P Đ, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Cao Văn D, sinh năm 1974 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: Khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, Phan Thanh A đi bộ từ nhà thuộc ấp B, xã B, thành phố H đến khu vực cụm dân cư ấp B, xã B, thành phố H; A quan sát thấy 01 (một) xe đạp điện, màu xanh đen, nhãn hiệu YAMI e-bike của anh Phạm Bạch H đang để ở ven đường không có người trông coi nên A đã lén lút lấy trộm và đem xe cầm cho một người thanh niên không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tên T ở thị trấn S, huyện T với giá 500.000 đồng.

Sau sự việc xảy ra, anh Phạm Bạch H đến Công an xã B trình báo sự việc. Phan Thanh A biết hành vi trộm cắp của mình bị phát hiện nên đến ngày 25 tháng 5 năm 2024, A đến huyện T chuộc lại xe đạp điện đã cầm cho người thanh niên tên T, mang đến giao nộp cho Cơ quan Công an.

Trong quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra làm rõ hành vi trộm cắp tài sản do Phan Thanh A thực hiện thì đến ngày 06/6/2024, A tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố H, cụ thể như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 06/6/2024, Phan Thanh A đi đến cụm dân cư ấp B, xã B, thành phố H; A quan sát thấy có nhiều phương tiện xe mô tô đang để trên lề đường không có người trông coi nên A đã lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô, biển số 52F3-4948, nhãn hiệu LISOHAKA, số khung LX-057143, số máy FNH-00057143, màu xanh của anh Nguyễn Văn Q; do còn chìa khóa cắm sẵn trên ổ khóa nên A khởi động xe chạy đến thành phố C, tỉnh An Giang bán cho anh Cao Văn D, sinh năm 1974, ngụ khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang với giá 400.000 đồng. Sau khi bán xe xong, A về nhà tại ấp B, xã B thì bị lực lượng Công an bắt giữ.

- Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) cái áo sơ mi tay dài, màu đen; 01 (một) cái quần sọt Jeans, màu bạc; 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng, đen; 01 (một) xe đạp điện, màu xanh đen, nhãn hiệu YAMI e-bike, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển số 52F3-4948, số máy: FNH-00057143, số khung LX.057143, nhãn hiệu Lisohaka, màu sơn xanh, đã qua sử dụng.

Bản Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG ngày 05/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự: Giá trị 01 (một) xe đạp điện, màu xanh đen, nhãn hiệu YAMI e-bike, đã qua sử dụng là: 7.000.000 đồng

Bản kết luận định giá tài sản, số: 41/KL-HĐĐG, ngày 07/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 52F3-4948, số máy: FNH-00057143, số khung LX.057143, nhãn hiệu LISOHAKA, màu sơn xanh, đã qua sử dụng là 2.300.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bị hại Phạm Bạch H 01 (một) xe đạp điện, màu xanh đen, nhãn hiệu YAMI e-bike, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị hại Nguyễn Văn Q 01 (một) xe mô tô, biển số 52F3-4948, số máy: FNH-00057143, số khung LX.057143, nhãn hiệu Lisohaka, màu sơn xanh, đã qua sử dụng.

Trong quá trình điều tra, Phan Thanh A đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKSTPHN, ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Phan Thanh A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Phan Thanh A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Thanh A về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thanh A mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đối với việc Phan Thanh A khai nhận sau khi lấy trộm 01 (một) xe đạp điện và đem cầm cho người thanh niên tên T không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại huyện T vào ngày 15/5/2024. Qua xác minh, không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người nam thanh niên này nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với việc anh Cao Văn D mua 01 (một) xe mô tô do Phan Thanh A trộm cắp. Quá trình điều tra xác định D không biết xe này là tài sản do A trộm cắp mà có nên không có căn cứ xem xét xử lý D về hành vi “Tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có” nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bị hại Phạm Bạch H 01 (một) xe đạp điện, màu xanh đen, nhãn hiệu YAMI e-bike, đã qua sử dụng; trả lại cho bị hại Nguyễn Văn Q 01 (một) xe mô tô, biển số 52F3-4948, số máy: FNH-00057143, số khung LX.057143, nhãn hiệu Lisohaka, màu sơn xanh, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên, trả lại cho Phan Thanh A: 01 (một) cái áo sơ mi tay dài, màu đen; 01 (một) cái quần sọt Jeans, màu bạc; 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng-đen, tất cả đều đã qua sử dụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Bạch H, Nguyễn Văn Q đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Văn D đã nhận 400.000 đồng khắc phục từ gia đình bị cáo và không yêu cầu gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại Phạm Bạch HNguyễn Văn Q yêu cầu xử lý hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định pháp luật; về trách nhiệm dân sự, đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp nhưng muốn nhanh có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã đi vào con đường phạm tội, bị cáo đã 2 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, trong đó bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 (một) xe đạp điện, màu xanh đen, nhãn hiệu YAMI e-bike, đã qua sử dụng của anh Phạm Bạch H và 01 (một) xe mô tô, biển số 52F3-4948, số máy: FNH-00057143, số khung LX.057143, nhãn hiệu LISOHAKA, màu sơn xanh, đã qua sử dụng của anh Nguyễn Văn Q.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG ngày 05/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự: Giá trị 01 (một) xe đạp điện, màu xanh đen, nhãn hiệu YAMI e-bike, đã qua sử dụng mà bị cáo chiếm đoạt của anh Phạm Bạch H có giá trị là: 7.000.000 đồng

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản, số: 41/KL-HĐĐG, ngày 07/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 52F3-4948, số máy: FNH-00057143, số khung LX.057143, nhãn hiệu LISOHAKA, màu sơn xanh, đã qua sử dụng mà bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Q có giá trị là 2.300.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Phan Thanh A chiếm đoạt của các bị hại là 9.300.000 đồng.

Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo; lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phan Thanh A đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Tội phạm mà bị cáo gây ra đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiền án. Do không có nghề nghiệp, nhưng lại muốn nhanh có tiền tiêu xài, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội mình gây ra. Đây là các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[6] Đối với việc Phan Thanh A khai nhận sau khi lấy trộm 01 (một) xe đạp điện và đem cầm cho người thanh niên tên T không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại huyện T vào ngày 15/5/2024. Qua xác minh, không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người nam thanh niên này nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Đối với việc anh Cao Văn D mua 01 (một) xe mô tô do Phan Thanh A trộm cắp. Quá trình điều tra xác định, D khi mua tài sản không biết xe này là tài sản do A trộm cắp mà có nên không có căn cứ xem xét xử lý D về hành vi “Tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có” do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8] Về vật chứng vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý, trả lại cho bị hại Phạm Bạch H 01 (một) xe đạp điện, màu xanh đen, nhãn hiệu YAMI e-bike, đã qua sử dụng; trả lại cho bị hại Nguyễn Văn Q 01 (một) xe mô tô, biển số 52F3-4948, số máy: FNH-00057143, số khung LX.057143, nhãn hiệu Lisohaka, màu sơn xanh, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với 01 (một) cái áo sơ mi tay dài, màu đen; 01 (một) cái quần sọt Jeans, màu bạc; 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng, đen. Quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của Phan Thanh A, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho A là phù hợp với quy định pháp luật.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Phạm Bạch H, Nguyễn Văn Q đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Văn D đã nhận 400.000 đồng khắc phục từ gia đình bị cáo và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh A 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 06/6/2024).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Trả lại cho bị cáo Phan Thanh A: 01 (một) cái áo sơ mi tay dài, màu đen; 01 (một) cái quần sọt Jeans, màu bạc; 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng-đen, tất cả đều đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Thanh A phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/8/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND. TX. Hồng Ngự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thống

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger