|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA TỈNH PHÚ THỌ Bản số: 39/2024/HS-ST Ngày 30/7/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phùng Văn Thị
- Bà Vương Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Khắc Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2024/QĐST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Vi Văn P (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 20/4/1970 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vi Văn N và bà Vi Thị C (đều đã chết); vợ là Vi Thị K, sinh năm 1972; con: 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Nguyễn Thành C1 (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 08/9/1976 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Trần Thị C2, sinh năm 1949; vợ là Chu Thị Hồng T, sinh năm 1981; có 01 con, sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 (Ngày 13/8/2023, Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1693/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà, hình thức phạt tiền 1.500.000đ, đã nộp phạt xong ngày 15/8/2023).
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Vi Quang H1, sinh năm 1963
- Địa chỉ: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Thế H2, sinh năm 1993
- Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 50 phút, ngày 25/01/2024, nhận được tố giác của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của gia đình Vi Văn P, sinh năm 1970, thuộc Khu A, xã Đ, huyện T đang diễn ra hành vi đánh bạc. Công an huyện T phối hợp cùng chính quyền địa phương xã Đ có mặt tại nhà ở của P để kiểm tra xác minh. Quá trình làm việc, P thừa nhận hành vi đánh bạc của mình và tự nguyện giao nộp: 01 tờ giấy kẻ ngang hình chữ nhật của cơ sở sản xuất “Hải Tiến” kích thước (24 x 16)cm có ghi các con số, ký hiệu bằng mực bút bi màu xanh; P khai nhận là bảng ghi chép kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng vào ngày 23/01/2024 và ngày 24/01/2024; 01 tờ giấy kẻ ngang hình chữ nhật của cơ sở sản xuất “Hải Tiến” kích thước (24 x 16)cm có ghi các chữ, số, ký hiệu P khai nhận là bảng ghi số lô, số đề; 01 chiếc bút bi mực xanh, nhãn hiệu flex oficem, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10S, gắn sim số 0397360451 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50, gắn sim số 0344833076. Công an huyện T đã lập biên bản sự việc và tiến hành điều tra, xác minh theo quy định.
Quá trình điều tra, làm rõ như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 23/01/2024, P đang ở nhà thì thấy có một người đàn ông không quen biết khoảng 50 tuổi tìm đến hỏi mua trâu. Trong lúc nói chuyện, người đàn ông tự giới thiệu tên là A, nhà ở khu vực chợ K1, huyện T; đồng thời Anh đặt vấn đề và bảo P làm thư ký bán số lô, số đề cho khách rồi chuyển cho A. Do hám lợi nên P đồng ý. P và A thống nhất đối với số lô P chuyển cho Anh là 22.000đ/01 điểm lô; với số đề P chuyển cho Anh 80% tổng số tiền khách mua số đề; hàng ngày, vào khoảng 18 giờ 00 phút Anh sẽ qua nhà P lấy bảng ghi số lô, số đề; cứ 01 tuần thì thanh toán tiền thắng thua một lần. Ngày 24/01/2024 P bắt đầu ghi bán số lô, số đề và thoả thuận với những người mua số lô, số đề P bán cho khách là 23.000đ/01 điểm, nếu số lô khách mua mà trùng với hai số cuối của một trong các giải của kết quả xổ số kiến thiến Miền B thì P phải trả cho khách 80.000đ/01 điểm lô. Đối với số đề, nếu khách mua số đề, dây, đầu, đít, tổng... mà trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì P phải trả cho khách số tiền gấp 70 lần; khách mua số đề 3 càng mà trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì P phải trả cho khách số tiền gấp 400 lần. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào 18 giờ 15 phút cùng ngày để P so sánh, đối chiếu thẳng thua. Hàng ngày, P ghi bán các số lô, số đề mà khách trực tiếp đến nhà hoặc gọi điện, nhắn tin qua số điện thoại, qua ứng dụng Zalo mua của P ra giấy để tổng hợp thành bảng ghi số lô, số đề. Cụ thể:
Ngày 24/01/2024, P bán số lô, số đề cho các đối tượng gồm: Nguyễn Thành C1 - SN 1976, trú khu A, xã V, thị xã P thông qua việc gọi điện trên ứng dụng Zalo, P bán cho C1 180 điểm lô với giá 23.000 đồng/1 điểm, tổng số tiền đánh bạc là 4.140.000đ; Vi Quang H1 - SN 1963, trú khu A, xã V, thị xã P thông qua việc gọi điện qua số điện thoại di động với số tiền đánh bạc là 230.000đ. Tổng số tiền mà P bán số lô, đề cho các con bạc là 4.370.000đ (C1 và H1 chưa trả tiền mua số lô, số đề cho P). Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, C1 và H1 không trúng thưởng. Như vậy, tổng số tiền mà P đánh bạc ngày 24/01/2024 là 4.370.000đ. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, Anh đến thu bảng số lô, số đề bằng cách sử dụng điện thoại di động chụp lại ảnh bảng ghi số lô, số đề.
Ngày 25/01/2024, P tiếp tục bán số lô, số đề cho các con bạc gồm:
- - Khoảng 15h30, Đỗ Viết T1 - SN 1986, trú khu A, xã Đ trực tiếp đến nhà hỏi mua của P một số số đề với tổng số tiền là 630.000đ. T1 đã trả tiền cho P.
- - Khoảng 17h05, Nguyễn Thành C1 sử dụng điện thoại thông qua tài khoản Zalo của C1 là “Thành Công” được liên kết bằng số điện thoại 0385.295.xxx điện đến tài khoản Zalo của P là “Vi Phương” được liên kết bằng số điện thoại 0397.360.xxx, mua các số lô với tổng số tiền là 4.140.000đ. C1 chưa trả tiền mua các số lô cho P.
- - Khoảng 17h24, Vi Quang H1 sử dụng điện thoại gắn sim số 0969.120.xxx gọi điện đến số điện thoại của P là 0344.833.xxx, mua số lô, số đề với tổng số tiền là 505.000đ. H1 chưa trả tiền mua các số lô, số đề cho P.
- - Khoảng 17h30, Nguyễn Thế H2, SN 1993, trú khu A, xã Đ sử dụng điện thoại gắn sim số 0972.561.xxx nhắn tin đến số điện thoại của P là 0344.833.xxx, mua các số lô với tổng số tiền là 1.840.000đ. H2 đã trả tiền mua các số lô cho P.
- - Khoảng 17h35, Vi Văn B1, SN 1957, trú khu A, xã V, thị xã P sử dụng điện thoại gắn sim số 0384.200.xxx gọi điện đến số điện thoại của P là 0344.833.xxx, mua các số lô, số đề với tổng số tiền là 452.000đ. B1 chưa trả tiền mua các số lô, số đề cho P.
- - Khoảng 17h39, Nguyễn Văn H3, SN 1981, trú khu G, xã Đ sử dụng điện thoại gắn sim số 0383.318.xxx gọi điện đến số điện thoại của P là 0344.833.xxx, mua các số lô, số đề với tổng số tiền là 963.000đ. H3 chưa trả tiền mua các số lô, số đề cho P.
- - Khoảng 17h54, Vi Thị T2, SN 1952, trú khu A, xã V, thị xã P sử dụng điện thoại gắn sim số 0969.866.xxx gọi điện đến số điện thoại của P là 0344.833.xxx, mua số đề với tổng số tiền là 220.000đ. Thơ chưa trả tiền mua các số đề cho P.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho các con bạc ngày 25/01/2024 của Vi Văn P là 8.750.000đ. P đã ghi tổng hợp thành bảng đề vào tờ giấy nhãn hiệu “HẢI TIẾN”; nhưng Anh chưa đến thu bảng đề thì hành vi đánh bạc của P đã bị phát hiện.
Cơ quan Công an huyện T đã triệu tập Nguyễn Thành C1, Vi Quang H1, Đỗ Viết T1, Nguyễn Thế H2, Vi Văn B1, Nguyễn Văn H3, Vi Thị T2 đến làm việc. Các đối tượng nêu trên đều thừa nhận hành vi đánh bạc phù hợp với lời khai; bản giải trình số lô, số đề của P; kết quả kiểm tra điện thoại di động của P và H1 đều phù hợp với lời khai của các đối tượng. Vi Văn P tự nguyện giao nộp số tiền 2.470.000đ; Nguyễn Thành C1 giao nộp số tiền 8.280.000đ; Vi Quang H1 giao nộp số tiền 735.000₫ và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim số 0969 120 402; Vi Văn B1 giao nộp số tiền 452.000đ; Nguyễn Văn H3 giao nộp số tiền 963.000đ; Vi Thị T2 giao nộp số tiền là 220.000đ. Nguyễn Thế H2 giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 lắp sim số 0972 561 493. Đây là số tiền và những chiếc điện thoại mà các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Đối với điện thoại di động của C1, H3, B1 và T2 sử dụng để mua số lô, số đề, các đối tượng khai nhận khi nghe tin P bị Cơ quan Công an phát hiện các đối tượng đã vứt bỏ xuống ao nước và ở ven đường, vị trí cụ thể không xác định được. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện T không thu giữ được.
Đối với người đàn ông tên A, khoảng 50 tuổi, dáng người béo, cao khoảng 1m65, nhà ở khu vực chợ xã K, huyện T, Vi Văn P khai nhận đứng ra làm thư ký bán số lô, số đề cho khách rồi chuyển cho Anh để được chiết khẩu phần trăm hoa hồng. Tuy nhiên, ngoài lời khai của P, không có tài liệu, chứng cứ gì khác để chứng minh. Cơ quan Công an huyện T cũng đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được đó là ai nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Vi Quang H1, Đỗ Viết T1, Nguyễn Thế H2, Vi Văn B1, Nguyễn Văn H3 và Vi Thị T2 đã thực hiện hành vi đánh bạc với Vi Văn P, tuy nhiên số tiền mỗi người sử dụng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng, nhân thân đều không có tiền án, tiền sự về hành vi Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc. Vì vậy, Cơ quan Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với các đối tương trên.
Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKSTB ngày 10 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba truy tố các bị cáo Vi Văn P, Nguyễn Thành C1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vi Văn P.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành C1.
Xử phạt bị cáo Vi Văn P từ 12 tháng cải tạo không giam giữ đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C1 từ 24 tháng cải tạo không giam giữ đến 30 tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Vi Văn P và Nguyễn Thành C1 đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cá nhân đối với các bị cáo. Buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS:
- + Đối với 02 tờ giấy kẻ ngang hình chữ nhật nhãn hiệu “Hải Tiến”, kích thước (24 x 16)cm, hai mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, là bảng tổng hợp số lô, số đề của P vào ngày 24 và 25/01/2024. Đây là các vật chứng của vụ án nên cần được lưu trong hồ sơ.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc bút bi nhãn hiệu “flex oficem", vỏ màu trắng, mực màu xanh, bút vẫn còn mực, đã qua sử dụng; 01 sim số thuê bao 0344833076 và 01 sim số thuê bao 0397360451 của bị cáo Vi Văn P; sim số thuê bao 0972561493 của Nguyễn Thế H2; sim số thuê bao 0969120402 của Vi Quang H1 do sử dụng vào thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
- + Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A10s, màu đỏ số sêri R9AMC28H5MJ, số IMEI (khe 1): 353420114196622, số IMEI (khe 2): 35342111496620, điện thoại cũ, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động S galaxy A50 màu xanh, số sêri R58M45S7KQV, số IMEI (khe 1): 357088102364415, số IMEI (khe 2): 357089102364413, điện thoại cũ, đã qua sử dụng của bị cáo Vi Văn P; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, số sêri 355955046233454, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Thế H2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số IMEI: 350618541706128, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Vi Quang H1 do đều là công cụ sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 13.120.000₫ (Mười ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc.
+ Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận, bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo và những người tham gia tố tụng đều nhất trí và không ai có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án và các tài liệu khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 24/01/2024, tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Vi Văn P đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Thành C1 và Vi Quang H1 với tổng số tiền là 4.370.000 đồng. Ngày 25/01/2024, Vi Văn P đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Đỗ Viết T1, Nguyễn Thành C1, Vi Quang H1, Nguyễn Thế H2, Vi Văn B1, Nguyễn Văn H3 và Vi Thị T2 với tổng số tiền đánh bạc là 8.750.000 đồng. Như vậy, Vi Văn P đã thực hiện hành vi đánh bạc với tổng số tiền là: 13.120.000 đồng.
Nguyễn Thành C1 là người có tiền sự về hành vi đánh bạc, chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, đến ngày 24/01/2024 C1 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua các số lô của P với số tiền là 4.140.000 đồng. Ngày 25/01/2024 C1 tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua các số lô của P với số tiền là 4.140.000 đồng.
Do đó, Vi Văn P và Nguyễn Thành C1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, các bị cáo nhận thức được hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật nên các bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vi Văn P, Nguyễn Thành C1 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:
"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
Đối với Vi Quang H1, Đỗ Viết T1, Nguyễn Thế H2, Vi Văn B1, Nguyễn Văn H3 và Vi Thị T2 đã thực hiện hành vi đánh bạc với Vi Văn P, tuy nhiên số tiền mỗi người sử dụng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng, nhân thân đều không có tiền án, tiền sự về hành vi Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc. Vì vậy, Cơ quan Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người nêu trên là phù hợp.
[3] Tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, làm mất ổn định an ninh trật tự địa phương. Vì vậy, đưa các bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Vi Văn P không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bố là ông Vi Văn N và mẹ đẻ là bà Vi Thị C được Chủ tịch UBND tỉnh P tặng thưởng Bằng khen kháng chiến đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và ổn định, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng có khung hình phạt tù không quá 3 năm nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Vi Văn P từ 12 tháng cải tạo không giam giữ đến 15 tháng cải tạo không giam giữ là phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Thành C1 có nhân thân xấu, có tiền sự về hành vi đánh bạc: bị xử phạt 1.500.000 đồng, chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Đến ngày 24/01/2024 và 25/01/2024 bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua các số lô của P mỗi lần với số tiền là 4.140.000 đồng. Vì vậy, bị cáo C1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo C1 có nơi cư trú rõ ràng và ổn định, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng có khung hình phạt tù không quá 3 năm nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C1 từ 24 tháng cải tạo không giam giữ đến 30 tháng cải tạo không giam giữ là phù hợp.
Bị cáo P và C1 đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cá nhân đối với các bị cáo. Buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Xét thấy, bị cáo Vi Văn P, Nguyễn Thành C1 không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- + Đối với: 02 tờ giấy kẻ ngang hình chữ nhật nhãn hiệu “Hải Tiến”, kích thước (24x16)cm, hai mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, là bảng tổng hợp số lô, số đề của Vi Văn P vào ngày 24 và 25/01/2024. Đây là các vật chứng của vụ án nên cần được lưu trong hồ sơ là phù hợp.
- + Đối với: 01 chiếc bút bi nhãn hiệu “flex oficem”, vỏ màu trắng, mực màu xanh, bút vẫn còn mực, đã qua sử dụng; 01 sim số thuê bao 0344833076 và 01 sim số thuê bao 0397360451 của bị cáo Vi Văn P; sim số thuê bao 0972561493 của Nguyễn Thế H2; sim số thuê bao 0969120402 của Vi Quang H1 đều sử dụng vào thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với: 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A10s, màu đỏ số sêri R9AMC28H5MJ, số IMEI (khe 1): 353420114196622, số IMEI (khe 2): 35342111496620, điện thoại cũ, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động S galaxy A50 màu xanh, số sêri R58M45S7KQV, số IMEI (khe 1): 357088102364415, số IMEI (khe 2): 357089102364413, điện thoại cũ, đã qua sử dụng của bị cáo Vi Văn P; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, số sêri 355955046233454, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Thế H2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số IMEI: 350618541706128, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Vi Quang H1 đều là công cụ sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- + Đối với số tiền 13.120.000₫ (Mười ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba)
[7] Đối với người đàn ông tên A, khoảng 50 tuổi, dáng người béo, cao khoảng 1m65, nhà ở khu vực chợ xã K, huyện T, bị cáo Vi Văn P khai nhận đứng ra làm thư ký bán số lô, số đề cho khách rồi chuyển cho Anh để được chiết khấu phần trăm hoa hồng. Tuy nhiên, ngoài lời khai của P, không có tài liệu, chứng cứ gì khác để chứng minh. Cơ quan Công an huyện T cũng đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được đó là ai nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo Vi Văn P, Nguyễn Thành C1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vi Văn P.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bút bi nhãn hiệu “flex oficem", vỏ màu trắng, mực màu xanh, bút vẫn còn mực, đã qua sử dụng; 01 sim số thuê bao 0344833076 và 01 sim số thuê bao 0397360451 của bị cáo Vi Văn P; sim số thuê bao 0972561493 của Nguyễn Thế H2; sim số thuê bao 0969120402 của Vi Quang H1.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A10s, màu đỏ số sêri R9AMC28H5MJ, số IMEI (khe 1): 353420114196622, số IMEI (khe 2): 35342111496620, điện thoại cũ, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động S galaxy A50 màu xanh, số sêri R58M45S7KQV, số IMEI (khe 1): 357088102364415, số IMEI (khe 2): 357089102364413, điện thoại cũ, đã qua sử dụng của bị cáo Vi Văn P; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, số sêri 355955046233454, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Thế H2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số IMEI: 350618541706128, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Vi Quang H1.
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 13.120.000₫ (Mười ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Vi Văn P, Nguyễn Thành C1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành C1.
Tuyên bố bị cáo Vi Văn P, Nguyễn Thành C1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Vi Văn P 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Vi Văn P tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Vi Văn P cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C1 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Thành C1 tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Thành C1 cho UBND xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cá nhân đối với các bị cáo.
Buộc bị cáo Vi Văn P, Nguyễn Thành C1 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Các bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Trần Thị Lan Anh |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
