|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, TP. HÀ NỘI Bản án số:39/2024/HS-ST Ngày 30/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Đồng và ông Nguyễn Tiến Bộ
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xét xử trực tuyến số 3 – Toà án nhân dân thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN L, sinh năm 1975. Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã T, huyện Ứ, H: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Trần Thị H; vợ Nguyễn Thị T năm 1981; con có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 52 lập ngày 07/02/2024 tại Công an huyện M
Nhân thân: Ngày 16/10/2021, bị C hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền: 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 03/12/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, được trích xuất đến điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hcó mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 h30 phút ngày 01/02/2024, tại khu vực trước cổng trường Trung học cơ sở xã B thuộc thôn P, xã B, huyện M tuần tra Công an xã Bphát hiện và bắt quả tang đối với Nguyễn Văn L1 nhả trong miệng xuống đất cạnh chỗ Luật đứng 01 túi nilon kích thước (4x7)cm, bên trong có 02 gói nhỏ bọc giấy đều chứa chất bột màu trắng. Luật khai nhận đó là ma túy Heroin của L1mua về để sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng công an bắt giữ. Lực lượng công an tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật và đưa Luật về trụ sở làm việc.
Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ gồm:
- 01 túi nilon kích thước (4x7)cm, bên trong có 02 gói nhỏ bọc giấy đều chứa chất bột màu trắng (thu giữ tại mặt đất cạnh Luật đứng).
- 01 điện thoại Nokia 105, màu xanh đen, bên trong gắn sim số 0868896575.
- 01 xe máy Wave màu sơn xanh bạc, BKS: 29Y3-703.01.
Ngày 01/02/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện M Quyết định trưng cầu giám định số 208/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng KCông an thành phố Hmẫu vật gửi giám định có phải ma túy không? Loại gì? Khối lượng?
Ngày 10/02/2024, Phòng KCông an thành phố Hcó Kết luận giám định số 1411A/KL-KTHS, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy (để trong 01 túi nilon) đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,364 gam./."
Quá trình điều tra làm rõ như sau:
Nguyễn Văn L1là đối tượng nghiện ma túy nên khoảng 09h30 ngày 01/02/2024, Nguyễn Văn L1đang ở nhà tại thôn Đ, xã T, huyện Ứ gọi điện thoại từ số “0868.896.xxx” của Luật đến số thuê bao “0877426500” (Luật lưu trong danh bạ là “EÔK”) hỏi mua của người này 700.000đồng tiền ma túy loại Heroin (Luật biết số của người này do bạn nghiện giới thiệu, Luật không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Người này đồng ý và bảo Llđứng đợi ở đường đê sông đáy gần Trạm y tế xã BLuật mượn xe máy Wave màu sơn xanh bạc, BKS: 29Y3-703.01 của con gái là Nguyễn Thị T1 T1sinh năm 2005, trú tại thôn Đ, huyện Ứ, TP H điều khiển xe máy đi đến chỗ hẹn, đợi một lúc thì có 01 người nam giới, khoảng 30 tuổi đi xe đến và đưa cho Luật 01 túi nilon bên trong có 02 gói nhỏ bọc giấy đều chứa chất bột màu trắng. Luật đưa cho người đó 700.000đồng và nhận gói ma túy cho vào miệng và lên xe đi về. Khi đi đến khu vực trường Trung học cơ sở xã B bị Công an kiểm tra, thấy vậy Luật nhả túi ma túy trong miệng xuống đất cạnh chỗ Luật đứng. Lực lượng Công an tiến hành thu giữ và niêm phong vật chứng đưa Luật về trụ sở làm việc.
Kết quả tại Phiếu xét nghiệm ma túy trong nước tiểu ngày 01/02/2024 đối với Nguyễn Văn L1kết quả dương tính với ma túy loại Heroin.
Cơ quan điều tra tiến hành lập Biên bản mở niêm phong kiểm tra điện thoại Nokia 105, màu xanh đen, số 0868896575, kết quả:
- Các cuộc gọi nhỡ: không.
- Các cuộc gọi đi: gọi đi số thuê bao 0877426500 tên “EÔK” 01 lần vào 10:08 (48s) ngày 01/02/2024.
- Các cuộc gọi đến: số thuê bao 0877426500 tên “EÔK” gọi đến 01 lần vào 10:27 (28s) ngày 01/02/2024.
- Tin nhắn: Trống.
Ngày 19/02/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện M số 175/CV-CSĐT gửi đến Tập đoàn Cđề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao, bảng kê chi tiết các cuộc điện thoại gọi đi, gọi đến, tin nhắn của số thuê bao “0868896575”.
Ngày 03/6/2024, Tập đoàn C1 Công văn số 5977/CNVTQĐ-TTKT trả lời kèm theo Bảng kê chi tiết như sau: Chủ thuê bao “0868896575” là Nguyễn Văn L1sinh năm 1975, địa chỉ thôn Đ, xã T, huyện Ứ, TP H ngày 20/01/2024 đến 01/02/2024, số “0868896575” gọi đi số “0877426500” 04 lần: lần 1: vào ngày 30/01/2024 (lúc 13:41:45, thời gian 73s); lần 2: vào ngày 31/01/2024 (lúc 10:13:07, thời gian 46s); lần 3: vào ngày 31/01/2024 (lúc 13:09:18, thời gian 11s); lần 4: vào ngày 01/02/2024 (lúc 10:07:32, thời gian 9s).
Ngày 19/02/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện M số 173/CV-CSĐT gửi đến Công ty Cổ phần V cung cấp thông tin chủ thuê bao, bảng kê chi tiết các cuộc điện thoại gọi đi, gọi đến, tin nhắn của số thuê bao “0877426500”.
Ngày 11/3/2024, Công ty Cổ phần V1 số 237/2024/CV-I-Telecom trả lời kèm theo Bảng kê chi tiết như sau: Chủ thuê bao số 0877426500 là Ngô Thị N ngày 01/08/1966, địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Ứ, TP H ngày 20/01/2024 đến ngày 01/02/2024, số thuê bao 0877426500 gọi đi số thuê bao 0868896575 02 lần: lần 1: vào ngày 31/01/2024 (từ 10:32:28 đến 10:32:53); lần 2: vào ngày 01/02/2024 (từ 09:36:23 đến 09:36:48). Bà Ngô Thị N1 từ trước tới nay không sử dụng số thuê bao 0877426500 và cũng không cho ai mượn thẻ Căn cước công dân, không quen biết và có mối quan hệ gì với Nguyễn Văn L1
Đối với 01 xe máy Wave màu sơn xanh bạc, BKS: 29Y3-703.01, số máy: JA39E3149533, số khung: RLHJA3928PY517663, qua xác minh, chủ xe là Nguyễn Thị T1 T1sinh năm 2005, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Ứ, TP H xe máy trên là do Tlmua vào đầu năm 2024, đăng ký với tên của Tlđến sáng ngày 01/02/2024, Nguyễn Văn Lllà bố của Tlcó mượn chiếc xe máy trên nói là để đi công việc, T1không biết L1 mượn xe để đi mua ma túy sử dụng. Ngày 13/3/2024, Nguyễn Thị T1 T1có đơn xin xe, ngày 19/3/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện M trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Thị T1 T1
Vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án: Có bảng kê vật chứng kèm theo Cáo trạng. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L2 nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Tại cáo trạng số: 33/CT- VKS - HS ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố: bị cáo Nguyễn Văn L1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Văn L1 từ 15 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì mẫu vật có chữ ký của họ tên đối tượng N3 và giám định viên được hoàn lại sau giám định.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu xanh – đen, có sim số 0868896575, dùng để liên lạc mua bán ma túy.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo đã được cơ quan cảnh sát điều tra thông báo kết luận giám định về ma túy đã thu giữ của bị cáo là hoàn toàn chính xác, bị cáo không thắc mắc gì, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tạng, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn L1là đối tượng nghiện ma túy nên ngày 01/02/2024, tại khu vực trường Trung học cơ sở X, huyện M, thành phố H NộiNguyễn Văn Llđã có hành vi tàng trữ trái phép 0,364 gam ma túy loại Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Theo Khoản 1 Điều 249 BLHS quy định về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thì: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
C) Heroin, côcain, Methamphetamine, AMDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Như vậy hành vi của Nguyễn Văn L3 phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà N1Biết tác hại của việc sử dụng ma túy sẽ làm tổn hại đối với sức khỏe, là nguyên nhân gây lây lan bệnh tật và phát sinh nhiều tội phạm khác, nhân thân bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai báo hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải; đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6].Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập và phải chấp hành hình phạt tù nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Văn L4 bộ niêm phong và giám định viên được hoàn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu xanh – đen, có sim số 0868896575 thu giữ của Nguyễn Văn L1, dùng để liên lạc mua bán ma túy, cần tịch thu sung quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu xanh – đen, còn lại 01 thẻ sim trong điện thoại cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 Đối với 01 xe máy Wave màu sơn xanh bạc, BKS: 29Y3-703.01, số máy: JA39E3149533, số khung: RLHJA3928PY517663, qua xác minh, chủ xe là Nguyễn Thị T1 T1sinh năm 2005, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Ứ, TP H xe máy trên là do Tlmua vào đầu năm 2024, đăng ký với tên của Tlđến sáng ngày 01/02/2024, Nguyễn Văn Lllà bố của Tlcó mượn chiếc xe máy trên nói là để đi công việc, T1không biết L1 mượn xe để đi mua ma túy sử dụng. Ngày 13/3/2024, Nguyễn Thị T1 T1có đơn xin xe, ngày 19/3/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện M trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Thị T1 T1 là phù hợp.
- Chủ thuê bao số 0877426500 là Ngô Thị N ngày 01/08/1966, địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Ứ, TP H ngày 20/01/2024 đến ngày 01/02/2024, số thuê bao 0877426500 gọi đi số thuê bao 0868896575 02 lần: lần 1: vào ngày 31/01/2024 (từ 10:32:28 đến 10:32:53); lần 2: vào ngày 01/02/2024 (từ 09:36:23 đến 09:36:48). Bà Ngô Thị N1 từ trước tới nay không sử dụng số thuê bao 0877426500 và cũng không cho ai mượn thẻ Căn cước công dân, không quen biết và có mối quan hệ gì với Nguyễn Văn L5 trình điều tra xác định không có tài liệu chứng cứ chứng minh chị N2 quan đến việc Luật mua ma túy để sử dụng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, phù hợp với quy định pháp luật.
- Về nguồn gốc ma tuý: Luật khai mua của người nam giới khoảng 30 tuổi, không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đường đê sông Đ y tế xã B. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ nào khác về nhân thân người bán ma túy cho Luật. Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn L1phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về điều khoản áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Văn L6 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 phong bì mẫu vật có chữ ký của họ tên đối tượng N3 và giám định viên được hoàn lại sau giám định.
- 01 thẻ sim điện thoại.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu xanh – đen, đã niêm phong.
Tang vật trên đang do Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/6/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo L1phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Luật có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 30 tháng 7 năm 2024.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Việt Cường |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
