Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST

Ngày: 29 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thuận và bà Đinh Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Hải, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2023/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Đan T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/6/2005, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Hoàng Văn Q, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1981; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Thị Hồng Á, sinh năm 2001.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1982.
  • Nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1981.
  • Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 05 phút, ngày 22/7/2023, Hoàng Đan T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73K2 - 6409, kiểu dáng Dream để đi chơi. Khi đến đoạn đường nội thôn C, xã T, huyện T, T phát hiện nhà chị Trần Thị Hồng Á không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T dừng xe bên ngoài đường rồi đi bộ vào, thấy cửa phụ bên trái không khóa nên mở cửa đột nhập vào trong nhà. T vào các phòng ở tầng 01 tìm tài sản để lấy trộm nhưng không có. Sau đó T đi lên tầng 02, vào phòng ngủ của chị Trần Thị Hồng Á thì nhìn thấy một máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng - bạc đang cắm dây xạc tại đầu giường ngủ, T rút dây xạc lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi thoát ra khỏi nhà theo đường cũ, đưa điện thoại vừa trộm được về nhà cất giấu. Đến khoảng 08 giờ ngày 23/7/2023, T điều khiển xe mô tô nói trên đưa điện thoại đã lấy trộm về bán cho anh Nguyễn Mạnh H, chủ quán mua, bán sửa chữa điện thoại di động “Trường Phát” tại phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình với giá 1.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá số 22/KL-HĐĐG ngày 04/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng – bạc, loại 64GB, có giá trị tại thời điểm Hoàng Đan T trộm cắp là: 4.700.000 đồng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ vật chứng vụ án, gồm: Một điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng bạc, loại 64GB; Số IMEI: 356581100502763; IMEI2: 356581100612687; máy đã qua sử dụng; một xe mô tô biển kiểm soát 73K2 - 6409; nhãn hiệu HADOSIVA, xe đã qua sử dụng.

Ngày 21/9/2023 và ngày 01/11/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại một điện thoại di động cho người bị hại chị Trần Thị Hồng Á và một xe mô tô cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị B. ((Tất cả tài liệu, đồ vật, vật chứng có đặc điểm như Lệnh nhập kho vật chứng ngày 21/9/2023 và ngày 01/11/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T).

* Về trách nhiệm dân sự:

Qúa trình điều tra, tài sản bị chiếm đoạt là điện thoại di động đã được trả lại cho bị hại Trần Thị Hồng Á; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 1.000.000 đồng cho anh Nguyễn Mạnh H. Cả chị Á và anh H đều không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số 43/CT-VKSTH-HS ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố bị cáo Hoàng Đan T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Đan T từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 12 tháng đến 18 tháng; về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung “phạt tiền” quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo; phần bồi thường dân sự các bên đã thỏa thuận xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Đan T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với biên bản xác định hiện trường vụ án, sơ đồ hiện trường vụ án, bản ảnh, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 05 phút ngày 22/7/2023, tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, Hoàng Đan T lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của chủ sở hữu tài sản, đã lén lút thực hiện hành vi đột nhập vào nhà chị Trần Thị Hồng Á trộm cắp, chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng – bạc, loại 64GB, có giá trị 4.700.000 đồng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã thành niên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật như vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Hoàng Đan T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ mục đích cá nhân nhưng không bằng sức lao động của chính mình, điều đó đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Đan T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã bồi thường thiệt hại đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tài sản trộm cắp đã được trả lại cho bị hại. Do đó, HĐXX qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.

[6] Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt nên bị cáo có nhân thân tốt.

[7] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cho thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, HĐXX xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, tài sản bị chiếm đoạt là điện thoại di động đã được trả lại cho bị hại Trần Thị Hồng Á; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 1.000.000 đồng cho anh Nguyễn Mạnh H. Cả chị Á và anh H đều không yêu cầu bồi thường gì thêm về phần bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại một điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 11 cho người bị hại chị Trần Thị Hồng Á và một xe mô tô BKS 73K2 - 6409; nhãn hiệu HADOSIVA cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị B là đúng quy định của pháp luật.

[11] Về án phí: Bị cáo Hoàng Đan T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12]. Các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Mạnh H là người trực tiếp mua lại điện thoại di động do T trộm cắp mà có. Tuy nhiên, khi mua anh H đã hỏi nguồn gốc và được T xác định điện thoại là tài sản riêng của cá nhân, anh H không biết điện thoại trên do T trộm cắp mà có nên hành vi mua điện thoại của anh H không cấu thành tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Đan T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt Hoàng Đan T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/11/2023.

Giao Hoàng Đan T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  2. Trách nhiệm dân sự: Miễn xét.
  3. Án phí: Bị cáo Hoàng Đan T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2023); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/11/2023). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Q.Bình;
  • - VKSND tỉnh Q.Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Q.Bình;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo, bị hại, người CQLNVLQ;
  • - Lưu VP; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 39/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đan T phạm tội "trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger