Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 29 tháng 4 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Phước và ông Lê Minh Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 25/12/1988. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1948 (đã chết) và bà Huỳnh Thị B1, sinh năm 1960; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt)

Người làm chứng:

  • 1/ Chị Phan Thị Mỹ L, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  • 2/ Anh Võ Thanh Đ, sinh năm 1980 (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 09/9/2023, Trần Văn T tổ chức uống bia cùng Võ Thanh Đ, Phan Thị Mỹ L (bạn của T), Nguyễn Thị Kim T1 tại Phòng số 02 quán “Trung Nhứt” thuộc ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Trong lúc uống bia, T mời Điền hút thuốc lá thì T1 ngồi đối diện với T bảo “Không biết hút thuốc lấy làm gì, lỡ mai mốt người ta đưa ma túy, xì ke cũng hút luôn hả, muốn hút không tôi lấy cho chơi” nên T nghĩ The nói xấu mình, T đứng lên tay phải cầm vào thành nồi lẩu đang sôi, hất trúng ngực, bụng, đùi, tay, chân và bộ phận sinh dục của T1, được L can ngăn đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu điều trị bỏng đến ngày 25/9/2023, T1 ra viện và đến Công an xã V trình báo.

Ngày 27/11/2023 T bị khởi tố, điều tra.

Vật chứng và tài liệu đồ vật thu giữ: 01 bếp nấu bằng ga loại mini; 01 chai gas mini; 01 xoang (nồi) bằng kim loại màu trắng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 730 ngày 08/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A ghi nhận thương tích của Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1982, ghi nhận:

- Các kết quả chính qua giám định: Sẹo bỏng độ II gây rối loạn sắc tố ảnh hưởng đến thẩm mỹ: Vùng ngực trái chiếm dưới 01% diện tích cơ thể; vùng bụng trái chiếm 02% diện tích cơ thể; bộ phận sinh dục chiếm 01% diện tích cơ thể; vùng đùi phải chiếm 03% diện tích cơ thể; vùng đùi phải chiếm 05% diện tích cơ thể. Sẹo bỏng độ I không gây ảnh hưởng đến điều tiết và thẩm mỹ: vùng cánh tay trái chiếm 03% diện tích cơ thể; vùng cẳng tay trái chiếm 03% diện tích cơ thể; vùng cổ bàn chân phải chiếm 01% diện tích cơ thể.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 26%.

Kết luận khác: Tất cả các thương tích do bỏng nhiệt gây nên.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSTS-HS ngày 22/3/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Trần Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Trần Thị Kim T2, những người làm chứng Võ Thanh Đ, Phan Thị Mỹ L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung N khai phù hợp như nội dung vụ án đã nêu. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo T đã bồi thường chi phí điều trị, tổn thất tinh thần số tiền 45.000.000 đồng nên T2 không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội

3

đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Văn T nhất trí với bản luận tội nêu trên của đại diện Viện Kiểm sát, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng quy định pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 09/9/2023, Trần Văn T tổ chức uống bia cùng Võ Thanh Đ, Phan Thị Mỹ L (bạn của T), Nguyễn Thị Kim T1 tại quán “Trung Nhứt”. Trong lúc uống bia, T mời Điền hút thuốc lá thì T1 nói với Đ “Không biết hút thuốc lấy làm gì, lỡ mai mốt người ta đưa ma túy, xì ke cũng hút luôn hả, muốn hút không tôi lấy cho chơi”, nghĩ The nói xấu mình, T đứng lên tay phải cầm vào thành nồi lẩu đang sôi, hất trúng ngực, bụng, đùi, tay, chân và bộ phận sinh dục của T1, gây thương tích với tỷ lệ 26%.

4

Căn cứ quy định của pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và và an toàn xã hội làm cho quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội pham, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Trần Văn T trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích của tội phạm là dùng thủ đoạn nguy hiểm (hất nồi lẩu đang sôi), làm thương tích cho bị hại trong khi giữa bị cáo và bị hại không hề có mâu thuẫn gì với nhau.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi vụ án xảy ra đã bồi thường cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hậu quả gây tổn thương cơ thể bị hại là 26%, thể hiện bản chất côn đồ, xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết, do vậy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 45.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập xem xét.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 bếp nấu bằng ga loại mini; 01 chai gas mini; 01 xoang (nồi) bằng kim loại màu trắng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

5

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bếp gas mini; 01 (một) chai gas mini; 01 (một) nồi inox. (Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 17/QĐ-VKSTS, ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 29/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger