|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-11-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Thơ.
- Bà Huỳnh Thị Bích Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hà Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 87/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11-10-2023, quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31-10-2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1977. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Trân Thị T, sinh năm: 1979. (vắng mặt)
Trú tại: Khu phố C, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30-3-2023, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Nguyên đơn ông Lê Văn H trình bày:
Ông và bà T quen biết và tiến tới hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K ngày 08-5-2006, giấy chứng nhận kết hôn số 50. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống khu phố C, thị trấn K. Vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ ông mượn nợ bên ngoài rất nhiêu, mượn làm gì ông không biết, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và cãi nhau, vợ ông bỏ về nhà cha mẹ ruột từ năm 2016 cho đến nay không còn sống chung nữa, vợ ông để 03 con chung cho ông nuôi dưỡng, không quan tâm chăm sóc con, vợ chồng hiện nay mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Hiện nay ông không còn tình cảm với bà T nữa, ông xin ly hôn.
Vợ chồng có 03 con chung tên: Lê Trân Thanh T1, sinh năm 25-12-2004; Lê Tấn P, sinh năm: 2008 và Lê Trân Thanh T2, sinh năm 2012. Con hiện nay đang ở với ông. Nếu ly hôn ông có nguyện vọng nuôi 02 con chung và không yêu cầu vợ ông cấp dưỡng. Con lớn đã trưởng thành và có gia đình.
Hiện nay ông làm nông, thu nhập hàng ngày 250.000 đồng.
Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Bị đơn bà Trần Thị T vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng Bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đúng thành phân, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Vê việc giải quyết vụ án: Đê nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn, giao 02 con chung tên Lê Tấn P, sinh năm: 2008 và Lê Trân Thanh T2, sinh năm 2012 cho ông Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con do ông T không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ kiện này là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điêu 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải theo quy định tại khoản 1 Điêu 35 và khoản 1 Điêu 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa hôm nay Bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điêu 227, Điêu 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Văn H và bà Trần Thị T được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa ông H trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2015, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ ông mượn nợ bên ngoài rất nhiêu, mượn tiền làm gì ông không biết, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trâm trọng và cãi nhau, vợ ông bỏ về nhà cha mẹ ruột từ năm 2016 cho đến nay.
Xét thấy, vợ chồng đã sống ly thân và mạnh ai người đó sống, không quan tâm chăm sóc gì đến nhau từ năm 2016, bà T không mong muốn hàn gắn tình cảm, lời trình bày của ông H phù hợp với xác nhận của chính quyền địa phương ngày 10-9-2023. Như vậy, có căn cứ cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H.
[2.2] Về quan hệ con cái: Bà T và ông H có 03 con chung tên: Lê Trân Thanh T1, sinh năm 25-12-2004; Lê Tấn P, sinh năm: 2008 và Lê Trân Thanh T2, sinh năm 2012. Con hiện nay đang ở với ông H, ông có nguyện vọng nuôi 02 chung chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng. Con lớn đã trưởng thành và có gia đình. 02 con chung có nguyện vọng ở với ông H. Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho ông Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo tốt nhất cho các con. Về cấp dưỡng nuôi con, do ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu câu Tòa giải quyết trong vụ án này.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điêu 28, khoản 1 Điêu 35, khoản 1 Điêu 39, khoản 4 Điêu 147, khoản 2 Điêu 227, Điêu 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điêu 56, các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu câu khởi kiện của Nguyên đơn ông Lê Văn H.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn H được ly hôn với bà Trân Thị T.
Về con chung: Ông Lê Văn H được quyên trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Tấn P, sinh năm: 2008 và Lê Trân Thanh T2, sinh năm 2012. Bà Trần Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông H không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyên, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyên yêu câu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về án phí: Ông Lê Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007289 ngày 18-4-2023. Ông H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn, quyên kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng Bị đơn bà T vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thiên Quan |
Bản án số 39/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 39/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H ly hôn Trần Thị T
