Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 28-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lâm Ngọc Hà
  2. Ông Thạch Văn Hoà

Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/HSST ngày 17/7/2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với:

1. Bị cáo: Bùi Văn K, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1996; nơi sinh: thành phố Cần Thơ; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Bùi Thạch P và bà Nguyễn Thị Bé T; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết N; Con: có 01 người con, sinh năm 2018; Tiền sự, tiền án: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 30/3/2024, sau đó được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/3/2024 cho đến nay. (Có mặt).

2. Bị cáo: Trịnh Văn D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982; Nơi sinh: thành phố Cần Thơ; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, thị Trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Trịnh Thanh X và bà Trần Thị M; vợ: Nguyễn Ngọc T1; Con: có 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2021; Tiền sự, tiền án: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 30/3/2024, sau đó được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/3/2024 cho đến nay (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Thị Kim N1, sinh năm 1989 (Có mặt). Địa chỉ: Số C, khu V, phương C, thành phố Cần Thơ;
  2. Ông Nguyễn Minh K1, sinh năm 1981 (Có mặt). Địa chỉ: Số C, khu V, phương C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa bị cáo Bùi Văn K, sinh ngày 14/7/1996, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ và Trịnh Văn D, sinh ngày 01/01/1982, nơi thường trú: ấp T, thị trấn T, huyện T, Thành phố Cần Thơ có mối quan hệ là bạn bè, cùng làm tài xế chạy xe dịch vụ, nhưng không có thu nhập ổn định. Để có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, cụ thể như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 23/3/2024, khi được 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) thuê vận chuyển hàng cấm là 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu từ quận Ô, thành phố Cần Thơ về thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với số tiền 3.000.000 đồng thì Bùi Văn K đồng ý. Sau đó, người đàn ông trên cho K số điện thoại của người phụ nữ nhận thuốc lá và hẹn K khoảng 04 giờ ngày 24/3/2024 đến khu vực gần trạm thu phí B, thuộc quận Ô, thành phố Cần Thơ để lấy thuốc lá điếu nhập lậu vận chuyển về Sóc Trăng. Đến khoảng 15 giờ ngày 23/3/2024, bị cáo K rủ thêm Trịnh Văn D điều khiển xe ô tô cùng đi giao thuốc lá điếu nhập lậu và hứa trả công cho D số tiền 1.500.000 đồng, thì D đồng ý. Đến khoảng 03 giờ ngày 24/3/2024, D điều khiển xe mô tô chở K đến gần khu vực trạm thu phí B, thuộc quận Ô, thành phố Cần Thơ để chờ người đến giao thuốc lá điếu nhập lậu, còn D thì đi lấy xe ô tô biển số 65A-338.72 do đã thuê trước đó. Khi K đứng đợi được khoảng 30 phút thì có 02 người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) đến giao thuốc lá điếu nhập lậu (được để trong 04 cái túi màu xanh). Sau đó, bị cáo D điều khiển xe ô tô biển số 65A-338.72 đến và K đã sắp xếp 04 túi màu xanh bên trong có chứa thuốc lá điếu nhập lậu lên xe, rồi D điều khiển xe chở theo K vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu trên hướng về thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để giao cho 01 người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ, liên lạc qua số điện thoại 0777.836.xxx). Khi bị cáo D điều khiển xe ô tô biển số 65A-338.72 đến khu vực thuộc ấp G, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thì bị lực lượng Công an huyện C phối hợp với Công an xã A yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra thì phát hiện trên xe ô tô biển số 65A-338.72 có 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó, nhãn hiệu Jet là 2.000 bao, nhãn hiệu Hero là 980 bao) được để trong 04 cái túi có dây kéo màu xanh, nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định tạm giữ:

  • - Tạm giữ của bị cáo Bùi Văn K: 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó, nhãn hiệu Jet là 2.000 bao, nhãn hiệu Hero là 980 bao); 05 túi nylon màu đen, đã qua sử dụng; 04 túi nylon không màu trong suốt, đã qua sử dụng; 04 cái túi có dây kéo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, số IMEI 1: 866243059878271, số IMEI 2: 86624305987826; có gắn sim số: 0939.009.139; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...].
  • - Tạm giữ của bị cáo Trịnh Văn D: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Vios 1.5E-MT, màu trắng, biển số 65A-338.72, số máy 2NRX869239, số khung RL4B28F38N5123723; 02 Giấy biên nhận thế chấp của Công ty TNHH Một Thành Viên T3, mặt sau có bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe BKS: 65A-338.72; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 1521800 của xe 65A-338.72; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 0078011 65A-338.72; 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] tên Trịnh Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92, màu đen, số IMEI 1: 862251056643915, số IMEI 2: 862251056634907; có gắn sim 1 số 0939.272.988, sim 2 số 0988.227.355.

Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng, bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các vật chứng:

  • Trả lại cho bị cáo Bùi Văn K: 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...].
  • Trả lại cho bị cáo Trịnh Văn D: 01 giấy phép lái xe hạng C số [...].
  • Trả lại cho bà Phan Thị Kim N1: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Vios 1.5E-MT, màu trắng, biển số 65A-338.72, số máy 2NRX869239, số khung RL4B28F38N5123723; 02 Giấy biên nhận thế chấp của Công ty TNHH Một Thành Viên T3, mặt sau có bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe BKS: 65A-338.72; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 1521800 của xe 65A-338.72; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 0078011 65A-338.72.

Đối với các vật chứng còn lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS-CT ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố các bị cáo Bùi Văn K, Trịnh Văn D về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 36/CT-VKS-CT, ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1, Điều 191; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Bùi Văn K. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; áp dụng điểm b khoản 1, Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trịnh Văn D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn điều tra là đúng quy định nên không đặt ra xem xét; Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó, nhãn hiệu Jet là 2.000 bao, nhãn hiệu Hero là 980 bao); 05 túi nylon màu đen, đã qua sử dụng; 04 túi nylon không màu trong suốt, đã qua sử dụng; 04 cái túi có dây kéo màu xanh, đã qua sử dụng; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, số IMEI 1: 866243059878271, số IMEI 2: 86624305987826; có gắn sim số: 0939.009.139 của bị cáo Bùi Văn K, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92, màu đen, số IMEI 1: 862251056643915, số IMEI 2: 862251056634907; có gắn sim 1 số 0939.272.988, sim 2 số 0988.227.355 của bị cáo Trịnh Văn D.. Về án phí buộc các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D thừa nhận tòa bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Trong phần lời nói sau cùng các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D trình bày ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

    Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo. Xét lời thừa nhận tội của các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai của lời khai của của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, có cơ sở để xác định: Vào ngày 23/3/2024, sau khi được 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) thuê vận chuyển hàng cấm là 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu từ quận Ô, thành phố Cần Thơ về thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với số tiền 3.000.000 đồng, thì bị cáo Bùi Văn K đồng ý. Sau đó bị cáo K thuê thêm bị cáo Trịnh Văn D với số tiền 1.500.000 đồng để cùng với K vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu thì D đồng ý. Đến khoảng 04 giờ ngày 24/3/2024, Trịnh Văn D điều khiển xe ô tô biển số 65A-338.72 chở theo bị cáo Bùi Văn K vận chuyển 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó, nhãn hiệu Jet là 2.000 bao, nhãn hiệu Hero là 980 bao) từ quận Ô, thành phố Cần Thơ về thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để giao cho một người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) theo như thỏa thuận khi đến khu vực thuộc ấp G, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thì bị bắt quả tang.

    Do đó, cáo trạng số 36/CT-VKS-CT ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D là nguy hiểm cho xã hội; các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và ý thức được rằng hành vi vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã có hành vi vận chuyển thuê 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó, nhãn hiệu Jet là 2.000 bao, nhãn hiệu Hero là 980 bao) từ quận Ô, thành phố Cần Thơ về thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Cho nên, hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D có đủ yếu tố cấu thành tội “vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng một cách trái pháp luật. Ngoài ra, hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm và làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Cho nên, đối với các bị cáo cần phải xử nghiêm, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và góp phần phòng ngừa tội phạm.

    Trong vụ án này các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Để cá thể hóa hình phạt của từng bị cáo, cần xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau:

    1. Đối với bị cáo Bùi Văn K: Bị cáo là đã thỏa thuận với người thuên vận chuyển số thuốc lá nói trên, rủ rê bị cáo D và trực tiếp cùng với bị cáo D thực hiện hành vị phạm tội. Do đó, đối với bị cáo K cần phải xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo là bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau khi phạm tội bị cáo thật thà khai báo, ăn năng hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
    2. Đối với bị cáo Trịnh Văn D: Bị cáo là đồng phạm rất tích cực trong vụ án, khi được bị cáo K thuê chở số thuốc lá nói trên thì bị cáo D đồng và ccùng với bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, đối với bị cáo cũng cần phải xử nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng chưa tội phạm chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo là bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo có ông chú là người có công với cách mạng theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt là có căn cứ.
  5. Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này các bị cáo không có thu lợi bất chính vì chưa thu được số tiền vận chuyển thuê và các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó, nhãn hiệu Jet là 2.000 bao, nhãn hiệu Hero là 980 bao); 05 túi nylon màu đen, đã qua sử dụng; 04 túi nylon không màu trong suốt, đã qua sử dụng; 04 cái túi có dây kéo màu xanh, đã qua sử dụng; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, số IMEI 1: 866243059878271, số IMEI 2: 86624305987826; có gắn sim số: 0939.009.139 của bị cáo Bùi Văn K, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92, màu đen, số IMEI 1: 862251056643915, số IMEI 2: 862251056634907; có gắn sim 1 số 0939.272.988, sim 2 số 0988.227.355 của bị cáo Trịnh Văn D.

    Đối với các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn điều tra là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  7. Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  8. Đối với người đàn ông thuê bị cáo Bùi Văn K vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, người phụ nữ ở Sóc Trăng mà các bị cáo giao thuốc lá điếu nhập lậu và 02 người thanh niên giao thuốc lá điếu nhập lậu (không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể): theo lời trình bày của bị cáo Bùi Văn K, thì 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu đã bị tạm giữ là của 01 người đàn ông ở khu vực thuộc quận Ô, thành phố Cần Thơ thuê bị can vận chuyển về thành phố S để giao cho một người phụ nữ có số điện thoại 0777.836.xxx. Trong quá trình đứng đợi lấy thuốc lá điếu nhập lậu ở khu vực thuộc quận Ô, thành phố Cần Thơ, thì có 02 người thanh niên đến giao thuốc lá lậu để bị can vận chuyển về thành phố S. Trong quá trình điều tra, do không xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ cụ thể của các đối tượng nêu trên, nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập làm việc được để điều tra làm rõ. Sau này, khi nào xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ cụ thể của những người này để triệu tập và làm việc được, nếu có căn cứ thì sẽ xem xét xử lý sau.
  9. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lâm Thị T2: trong quá trình điều tra, đã chứng minh được bà Lâm Thị T2 là người đứng tên chủ sở hữu thuê bao 0777836748 mà bị can Bùi Văn K liên lạc trao đổi để giao thuốc lá điếu nhập lậu ở thành phố S. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, do bà T2 vắng mặt tại địa phương, không rõ đã đi đâu, làm gì, nên Cơ quan điều tra chưa thể triệu tập làm việc được để điều tra làm rõ. Do đó, khi nào làm việc được với đối tượng nêu trên, nếu có căn cứ thì xem xét xử lý sau.
  10. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phan Thị Kim N1 và Nguyễn Minh K1: trong quá trình điều tra đã chứng minh được, vợ chồng bà N1 và ông K1 là chủ sở hữu xe ô tô biển số 65A-338.72, là phương tiện mà các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D dùng để vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu. Vào ngày 23/3/2024, ông K1 có cho các bị cáo K và D thuê xe ô tô trên để chạy xe dịch vụ chở khách. Việc các bị cáo K và D dùng xe ô tô trên để vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, thì vợ chồng bà N1 và ông K1 không biết, nên không đặt ra để xem xét.
  11. Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D là người bị kết án nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

  • - Căn cứ vào điểm b khoản 1, Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D.
  • - Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2021) điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • - Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Văn D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

  1. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt đi chấp hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 30/3/2024
  2. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt đi chấp hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 30/3/2024
  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 2.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó, nhãn hiệu Jet là 2.000 bao, nhãn hiệu Hero là 980 bao); 05 túi nylon màu đen, đã qua sử dụng; 04 túi nylon không màu trong suốt, đã qua sử dụng; 04 cái túi có dây kéo màu xanh, đã qua sử dụng; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, số IMEI 1: 866243059878271, số IMEI 2: 86624305987826; có gắn sim số: 0939.009.139 của bị cáo Bùi Văn K, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92, màu đen, số IMEI 1: 862251056643915, số IMEI 2: 862251056634907; có gắn sim 1 số 0939.272.988, sim 2 số 0988.227.355 của bị cáo Trịnh Văn D.

    Đối với các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn điều tra là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  4. Về án phí: Xử buộc các bị cáo Bùi Văn K, Trịnh Văn D mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người có qutyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ST;
  • - VKSND tỉnh ST;
  • - VKSND huyện CT;
  • - CQ CSĐT CA huyện CT;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Chi cục THADS huyện CT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - CAH. Châu Thành;
  • - Nhà tạm giữ - CAH. Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về vận chuyển hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự số 39 ngày 28/8/2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger