TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 27-9-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Yến;
Bà Lê Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST-QĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Hữu Đ, sinh ngày 17 tháng 5 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hữu L và bà Phạm Thị T; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03-6-2024; có mặt.
Bị hại: Chị Phan Diệu Á, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn B P, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Bùi Thị Bích L1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn B P, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng (là mẹ đẻ của bị hại); vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn dân sự:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn D; địa chỉ trụ sở: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 - Tổng giám đốc Công ty TNHH D; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T2, anh Hoàng Văn P; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Hữu Đ là lái xe taxi của Công ty Trách nhiệm hữu hạn D (có giấy phép lái xe đúng quy định). Vào hồi 12 giờ 28 phút, ngày 31-01-2024, Đ điều khiển xe ôtô Biển kiểm soát 15E-002.70 trên đường D hướng ngã ba Đ "cũ" đi xã T, huyện K. Khi đi đến đoạn đường trước cửa nhà số E thuộc tổ N, phường M, quận Đ, Hải Phòng, Đ thấy phía trước bên phải có chị Phan Diệu Á đang điều khiển xe môtô Biển kiểm soát 15H1-450.83 đi cùng chiều. Đ điều khiển xe ôtô về bên trái vượt xe môtô do chị Á điều khiển nhưng do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã để gương chiếu hậu bên phải của xe ôtô va chạm với tay lái bên trái xe môtô gây tai nạn. Hậu quả, chị Á bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện, đến ngày 05-02-2024 thì tử vong.
Tại biên bản dựng lại hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông trên đường 403 được trải nhựa áp-phan rộng 06m, vạch sơn trắng kẻ đường đã mờ chia hai chiều đường đi ngược chiều nhau, dọc hai bên đường không có vỉa hè. Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại khu vực trước số nhà E đường D thuộc tổ dân phố N, phường M, quận Đ, Hải Phòng.
Lấy góc vuông cạnh bên ngoài trụ cổng bên phải số nhà E đường D theo hướng từ trong ra ngoài làm điểm mốc. Lấy mép đường bên phải đường 405 theo hướng đi từ ngã ba Đ "cũ" đi xã T, huyện K làm mép chuẩn.
Vị trí dấu vết nghi máu (số A) nằm ở mặt đường. T3 vết cách vuông góc điểm chuẩn là 2,6m, cách điểm mốc là 7,64m, cách tâm trục bánh sau xe môtô Biển kiểm soát 15H1 - 450.83 (số C) là 0,9 m.
Đám vết xây xước nhỏ (03 vết) trên mặt đường (số B) có kích thước trong diện (1,05x0,18)m nằm dưới vị trí đầu ngoài tay phanh, tay lái và bàn để chân bên trái xe môtô đeo Biển kiểm soát 15H1 - 450.83. Vị trí vết xước gần nhất cách mép chuẩn là 0,7m, cách điểm mốc là 9,65m.
Gờ giảm tốc gồm 04 vạch sơn màu trắng dạng hình chữ nhật có diện tích (04x2,6)m nằm ngang song song trên mặt đường; mỗi vạch sơn có kích thước (06x0,2)m và khoảng cách giữa các vạch sơn cách nhau là 0,4m.
Cách khoảng 200m về phía Đ (hướng đi về ngã ba Đ “cũ”) ở bên phải đường hướng từ ngã ba Đ "cũ" đi xã T, huyện K có cột kim loại gắn biển báo: “Chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên phải”.
Xe môtô Biển kiểm soát 15H1 - 450.83 (số C) nằm đổ nghiêng trái trên mặt đường có vị trí: T3 trục bánh trước cách vuông góc điểm chuẩn là 0,4m; T3 trục bánh sau cách vuông góc điểm chuẩn là 1,9m, cách điểm mốc là 8,2m và cách tâm trục bánh sau bên phải xe ôtô Biển kiểm soát 15E - 002.70 (số D) là 7,1m.
Xe ôtô Biển kiểm soát 15E - 002.70 (số D) dừng đỗ trên đường có vị trí: T3 trục bánh trước bên phải cách vuông góc điểm chuẩn là 3,05m. T3 trục bánh sau bên phải cách vuông góc điểm chuẩn là 03 m và cách điểm mốc là 12,1 m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông xác định:
Xe ôtô Biển kiểm soát 15E-002.70: Gương chiếu hậu bên phải phần ốp nhựa phía ngoài gương bị dập vỡ, rời khỏi phương tiện, tạo khoảng khuyết (27x10)cm. Phần mặt gương bị bung chốt kết nối với thân gương, tạo khe hở (03x28)cm. Vị trí thấp nhất của gương chiếu hậu so với mặt đất 93cm; Cánh cửa phía trước bên phải có 01 vết xước theo chiều từ trước ra sau, từ trên xuống dưới (14x0,5)cm, có dính tạp chất màu trắng, điểm thấp nhất cách mặt đất 74cm ( bút lục số 37 đến 38).
Xe môtô Biển kiểm soát 15H1 - 450.83: Gương chiếu hậu bên trái: ốp nhựa ngoài gương bị trầy xước theo chiều từ trước ra sau kích thước (04x02)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 119cm. Trục gương bị lệch khỏi vị trí ban đầu theo chiều từ trước ra sau tạo với vị trí ban đầu một góc 45 độ; Tay lái bên trái: bị trầy xước theo chiều từ trước ra sau, từ phải sang trái, kích thước (02x1,5)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 104cm; Tay phanh bên trái: bị trầy xước theo chiều từ phải sang trái kích thước (01x1,5)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 99cm.
Kết luận giám định số 762/KL-KTHS ngày 27-3-2024 của Phòng K - Công an thành phố H: “Không đủ căn cứ xác định tốc độ của xe ôtô mang Biển kiểm soát 15E - 002.70 và xe môtô mang Biển kiểm soát 15H1 - 450.83 tại thời điểm xảy ra va chạm. Dấu vết trượt xước nhựa, mất sơn màu xanh, bề mặt bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau ở mặt ngoài gáo gương chiếu hậu bên phải (bên phụ) trên xe ôtô mang Biển kiểm soát 15E - 002.70 (Ánh 05, 06: Bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước sơn (màu đen), bề mặt bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) theo chiều từ sau về trước ở núm kim loại đầu ngoài tay lái bên trái trên xe môtô mang Biển kiểm soát 15H1 - 450.83 (Ảnh 11, 12 Bản ảnh giám định). Không đủ căn cứ xác định vị trí đâm va của xe ôtô mang Biển kiểm soát 15E - 002.70 và xe môtô mang Biển kiểm soát 15H1 - 450.83 gây ra vụ tai nạn giao thông thuộc phần đường của phương tiện nào”. Công an quận Đ thu giữ 01 đoạn video clip liên quan đến vụ tai nạn giao thông trên.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Bùi Hữu Đ là 0,0000 mg/l; kết quả kiểm tra nước tiểu của Đ âm tính đối với các chất ma túy.
Kết luận giám định số 1073/KL-KTHS ngày 09-4-2024 của Phòng K - Công an thành phố H xác định: “01 (Một) tập tin có phần mở rộng ‘MP4᾽ dung lượng 1,08MB được lưu trong thẻ nhớ nhãn hiệu DSS 32GB đã qua sử dụng không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa” Trích xuất 04 (Bốn) hình ảnh lập thành bản ảnh”.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 202/2024/KLTgTHS-TTPYHP ngày 21-3-2024 của Trung tâm P1: “Nạn nhân bị chấn thương sọ não gây vỡ xương thái dương đỉnh trái, vỡ xương thành ngoài xoang bướm trái, tụ máu dưới màng cứng bán cầu đại não phải, xuất huyết dưới nhện, phù não, đã được phẫu thuật lấy máu tụ dưới màng cứng cấp tính, ra viện trong tình trạng Glasgow 03 điểm, thở máy, được coi như di chứng sống kiểu thực vật. Bầm tím tụ máu vùng thái dương phải và trán phải. Vết thương cổ chân trái 02cm.
Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Diệu Á qua hồ sơ là 99% (Chín mươi chín phần trăm).
Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gầy nên. Các thương tích của nạn nhân có dẫn đến tử vong cho nạn nhân Phan Diệu Á".
Hành vi của Bùi Hữu Đ điều khiển xe ôtô khi vượt xe không quan sát, không làm chủ tốc độ đã để xe ôtô va chạm với xe môtô do chị Phan Diệu Á điều khiển dẫn đến tai nạn giao thông làm chị Á bị tử vong đã vi phạm khoản 2, 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1, 2 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tại quy định về tốc độ, khoảng cách xe cơ giới khi tham gia giao thông đường bộ.
Vật chứng của vụ án: chiếc xe ôtô Biển kiểm soát 15E-002.70 đã được Cơ quan điều tra trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn D; chiếc xe môtô Biển kiểm soát 15H1-450.83 đã được Cơ quan điều tra trả lại cho bà Bùi Thị Bích L1 là mẹ đẻ của chị Phan Diệu Á.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, bị cáo Bùi Hữu Đ đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 330.000.000đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Bùi Thị Bích L1 không còn yêu cầu bồi thường gì thêm và không còn yêu cầu đề nghị nào khác, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Chiếc xe ôtô Biển kiểm soát 15E-002.70 và chiếc xe môtô Biển kiểm soát 15H1-450.83 đều bị hư hỏng nhẹ, người đại diện theo pháp luật của Công ty D và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu Bùi Hữu Đ phải bồi thường thiệt hại, sửa chữa xe.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSĐS ngày 05 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Bùi Hữu Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Bùi Hữu Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là từ 48 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Đề nghị hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Bùi Hữu Đ.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Bùi Hữu Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền 330.000.000đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và không có yêu cầu, đề nghị nào khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết tại giai đoạn điều tra nên không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị hại; Bị đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Hữu Đ thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng. Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, chỉ vì một phút chủ quan lơ là, thiếu quan sát dẫn đến hậu quả đáng tiếc xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh khó khăn của bị cáo, hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo phải nuôi bố mẹ già thường xuyên ốm đau để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện cải tạo ngoài xã hội, kiếm tiền nuôi sống gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[3] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Hải Phòng truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Hữu Đ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Biên bản khám nghiệm tử thi, Bản giám định pháp y, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Hồi 12 giờ 28 phút ngày 31-01-2024, tại đường D đoạn trước cửa nhà số E thuộc tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Bùi Hữu Đ điều khiển xe ôtô Biển kiểm soát 15E-002.70 từ ngã ba Đ "cũ" đến xã T, huyện K, khi đến đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, có gờ giảm tốc, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ để đảm bảo an toàn khi vượt xe dẫn đến va chạm với xe môtô Biển kiểm soát 15H1-450.83 do chị Phan Diệu Á điều khiển đi cùng chiều. Hậu quả, làm chị Phan Diệu Á bị thương sau đó vài ngày đã chết sau được khi cấp cứu tại Bệnh viện. Do đó hành vi của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo khi đi trên đường đến khu vực có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, có xe đi phía trước đã không giảm tốc độ, thiếu quan sát đã vượt dẫn đến va chạm gây tai nạn làm chết người do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, gây tâm lý lo ngại cho người tham gia giao thông. Bởi vậy, cần phải được xử lý thỏa đáng.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra tai nạn đã ngay lập tức ra đầu thú; mặc dù hoàn cảnh bị cáo khó khăn nhưng bị cáo đã bồi thường 330.000.000đồng cho gia đình bị hại, điều đó thể hiện sự thiện chí và nỗ lực cố gắng bồi thường, khắc phục hậu quả của bị cáo. Người đại diện hợp pháp của bị hại cũng đã làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Về xác định lỗi: Theo quy định tại Khoản 2, 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ thì:
“2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:
a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này”.
Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29-08-2019 của Bộ G quy định:
“Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ:
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường”.
Bị cáo đã thiếu quan sát, chủ quan không giảm tốc độ khi đến khu vực nguy hiểm, vượt xe phía trước khi chưa đảm bảo điều kiện an toàn, hậu quả làm chị Á bị thương và chết khi cấp cứu tại Bệnh viện. Tuy nhiên thấy trong vụ tai nạn giao thông này, bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông mà vẫn đeo tai nghe đã vi phạm điểm c khoản 3 Điều 30 Luật giao thông đường bộ do vậy, Hội đồng xét xử nhận định để dẫn đến xảy ra tai nạn là lỗi hỗn hợp của cả bị cáo và bị hại trong đó bị cáo có lỗi nhiều hơn.
[9] Về hình phạt chính: Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, hiện đang là lao động chính trong gia đình, phải nuôi bố mẹ già yếu. Do vậy không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.
[10] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện nay đang hành nghề lái xe, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi bố mẹ già yếu nên hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn. Nếu áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo sẽ dẫn đến bị cáo không còn thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền là 330.000.000đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nhận thấy với điều kiện hoàn cảnh kinh tế của bị cáo hiện nay, bị cáo đang là lao động chính trong gia đình, một mình phải nuôi bố mẹ già yếu. Vì vậy số tiền 330.000.000đồng mà bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại là thỏa đáng, thể hiện sự thiện chí, cố gắng hết sức mình của bị cáo để bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn D cũng đã kết hợp cùng bị cáo bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[12] Về xử lý vật chứng: Không.
[13] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Bùi Hữu Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Bị đơn dân sự được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bùi Hữu Định 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Hữu Đ cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là “Cấm hành nghề lái xe” đối với bị cáo Bùi Hữu Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 49/2024/HSST-QĐCĐKNCT ngày 05-8-2024 đối với bị cáo Bùi Hữu Đ.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Hữu Đ đã bồi thường số tiền 330.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và không còn yêu cầu, đề nghị nào khác nên vấn đề trách nhiệm dân sự hai bên đã giải quyết xong, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Không.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Bùi Hữu Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của B hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phương |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bui Huu D vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ
