Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 39/2023/DS-PT

Ngày: 26-12 - 2023

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang

Bà Trần Thị Thu Hiền

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Võ Đức H, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, vắng mặt.

Bị đơn: Ông Võ Kim C, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
  • Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N1: Anh Võ Giang C1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
  • - Ông Võ Đức H1, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
  • - Bà Võ Thị H2, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
  • Đại diện theo ủy quyền của ông Võ Đức H1 và bà Võ Thị H2: Ông Võ Đức H, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. có mặt.

* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Võ Đức H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/11/2022, biên bản lấy lời khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Võ Đức H trình bày:

Bố mẹ đẻ của ông Võ Đức H là ông Võ T, sinh năm 1920 và mẹ là bà Phạm Thị L, sinh năm 1922, ông T và bà L kết hôn với nhau khoảng năm 1954. Năm 1963 ông Võ T chết, năm 2018 bà Phạm Thị L chết. Trong quá trình chung sống với nhau, cha mẹ và anh, chị, em ông tạo lập được khối tài sản gồm 02 thửa đất:

Thửa đất số 07, tờ bản đồ số 30, diện tích 6175,7 m² (trong đó: 300,0m² đất ở tại nông thôn, đất trồng cây lâu năm: 5875,7m²) tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa BP491483 ngày 02/4/2014 mang tên Phạm Thị L.

Thửa đất số 04, tờ bản đồ số 69, diện tích 5865,3m² đất rừng sản xuất tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa CB506814 ngày 23/9/2015 mang tên Phạm Thị L.

Quá trình chung sống với nhau cha mẹ ông H sinh được 03 người con: Võ Đức H1, bà Võ Thị H2 và ông Võ Đức H. Ông H và bà Võ Thị H2 lập gia đình và ở riêng, còn anh trai Võ Đức H1 do bị nhiễm chất độc da cam chiến tranh để lại, nên ông H1 sinh sống cùng với bà Phạm Thị L trên 02 thửa đất nói trên. Đến năm 2018, bà Phạm Thị L chết nên khối tài sản 02 thửa đất nêu trên tạm thời giao cho ông Võ Đức H1 quản lý sử dụng, hai thửa đất chưa làm thủ tục thừa kế, chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Đến khoảng tháng 02 năm 2020, ông Võ Kim C, bà Nguyễn Thị N1 tự ý cắm cọc, lấn chiếm đất của gia đình ông tại hai thửa đất số 04 và số 07, cụ thể: Chiều rộng trên đỉnh phía Bắc là 11,9m; chiều dài phía Tây 181 mét giáp đất nhà ông Võ Kim C, chiều dài phía Đông giáp đất ông Võ Đức H1 181 mét, thành hình tam giác, tổng diện tích khoảng 1112 m². Sau khi gia đình ông H phát hiện gia đình ông C lấn chiếm đất thì gia đình ông viết đơn gửi lên UBND xã Đ để giải quyết. Đại diện các thành phần của UBND xã Đ đã vào trực tiếp tại thực địa để kiểm tra và xác nhận gia đình ông Võ Kim C lấn chiếm đất của gia đình ông là đúng sự thật và ông C đã thừa nhận ông C làm sai thì ông C chịu, nhưng sau đó hai gia đình lên phân chia cắm mốc ranh giới thì ông C chỉ không đúng theo yêu cầu của gia đình ông H, nên gia đình ông H tiếp tục gửi đơn lên UBND xã giao cho Công an xã giữ nguyên hiện trạng các thửa đất đang tranh chấp để chờ kết quả giải quyết của Tòa án.

Ông Võ Đức H khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Võ Kim C trả lại số diện tích đã bị lấn chiếm tại hai thửa đất số 04 và 07 là 853m²; cụ thể chiều dài trên đỉnh phía Bắc 6,7 mét; chiều dài cạnh phía Tây giáp đất ông Võ Kim C 100 mét; chiều dài cạnh giáp đất gia đình ông Võ Đức H1 140 mét; chiều dài phía dưới chân phía Nam dài 45 mét.

Ngày 16/5/2022 ông Võ Đức H bổ sung nội dung đơn khởi kiện như sau: Ông Võ Đức H cho rằng do có tranh chấp đất đai với gia đình ông Võ Kim C nên trong thời gian từ khoảng tháng 02 năm 2020 cho đến nay, gia đình ông phải giữ nguyên hiện trạng, không được trồng cây keo, không khai thác được tài sản trên đất tại phần diện tích đất đang có tranh chấp, cụ thể thiệt hại 185 cây keo, mỗi cây có giá 50.000 đồng, tính thành tiền là: 9.250.000 đồng (Chín triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Ngày 07/6/2023 ông Võ Đức H tiếp tục bổ sung nội dung đơn khởi kiện như sau: Ông Võ Đức H cho rằng do có tranh chấp đất đai với gia đình ông Võ Kim C nên trong thời gian từ khoảng tháng 02 năm 2020 cho đến nay, ông H mất thời gian đi lại làm thủ tục để nộp lên Tòa án mất một tháng, tính ngày công ông đi làm một ngày 300.000 đồng x 30 ngày tổng mất tiền công 9.000.000 đồng; tiền xăng xe mỗi lần đi hết 5000 đồng, đi về hết 5000 đồng, trong một tháng hết 600.000 đồng. Tổng cộng tiền công và tiền xăng xe đi lại tại Tòa án là: 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm ngàn đồng).

2. Theo các văn bản ghi lời khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Võ Kim C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Giang C1 trình bày:

Ông Võ Kim C, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1961 kết hôn với nhau vào năm 1981 và sinh được 04 người con. Năm 1984 UBND huyện Đ chỉ đạo UBND xã Đ thực hiện nghị quyết di dời dân vào làm kinh tế vườn rừng trong đó có gia đình ông CN1 được vận động. Đến đầu năm 1985 UBND xã Đ đã thành lập ban đo đạc phân chia đất ở, vợ chồng ông C được ban phân đất của xã Đ chia cho một thửa đất, tháng 7 năm 1985 gia đình ông C vào sinh sống trên thửa đất đó, năm 1990 gia đình ông C được cấp Lâm bạ, năm 2014 và năm 2015 nhà nước thu hồi lâm bạ và làm các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông CN1 và được chia tách thành hai thửa cụ thể như sau:

  • - Thửa thứ nhất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa BP491495 cấp ngày 02/4/2014 mang tên hộ ông Võ Kim C và bà Nguyễn Thị N1, thửa đất số 10, tờ bản đồ số 30, diện tích 6563,6 m² (trong đó: 300,0m² đất ở tại nông thôn, đất trồng cây lâu năm: 6263,6m²) tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • - Thửa thứ hai được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa CB506768 cấp ngày 11/9/2015 mang tên ông Võ Kim C và bà Nguyễn Thị N1, thửa đất số 6, tờ bản đồ địa chính số 69 năm 2015, diện tích 6450,6m² (đất rừng sản xuất) tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.

Quá trình sinh sống và sản xuất trên hai thửa đất được cấp, gia đình ông CN1 không lấn chiếm đất đai của bất kỳ ai. Hiện nay, ông Võ Đức H khởi kiện đến Tòa án và yêu cầu gia đình ông CN1 trả lại cho gia đình ông Võ Đức H số diện tích đất đã lấn chiếm tại hai thửa đất số 04 và 07 là: 853m²; cụ thể: Chiều rộng trên đỉnh phía Bắc 6,7 mét; chiều dài cạnh phía Tây giáp đất nhà tôi ông Võ Kim C 100 mét; chiều dài phía Đông giáp đất gia đình ông Võ Đức H1 140 mét; chiều dài phía dưới chân phía Nam dài 45 mét. Số tiền không khai thác được tài sản trên đất tại phần diện tích đất đang có tranh chấp, cụ thể thiệt hại 185 cây keo, mỗi cây có giá 50.000 đồng, tính thành tiền là: 9.250.000 đồng (Chín triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) và số tiền ông mất thời gian đi lại làm thủ tục để nộp lên Tòa án một tháng, tính ngày công ông đi làm một ngày 300.000 đồng tổng mất tiền công 9.000.000 đồng; tiền xăng xe mỗi lần đi hết 5000 đồng, đi về hết 5000 đồng, trong một tháng hết 600.000 đồng. Tổng cộng tiền công và tiền xăng xe đi lại tranh chấp tại Tòa án là: 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm ngàn đồng). Việc ông Võ Đức H khởi kiện đến Tòa án là không có cơ sở, ông C, bà N1 không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đức H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã căn cứ vào Điều 5; Điều 6; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 5 Điều 70; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 166; Điều 175; Điều 176; Điều 584; Điều 589 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a, b khoản 1 Điều 24; khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đức H về việc:

  • - Buộc ông Võ Kim C và bà Nguyễn Thị N1 trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 853m² tại thửa đất số 04 tờ bản đồ số 69 và thửa đất số 07 tờ bản đồ số 30 thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • - Buộc ông Võ Kim C và bà Nguyễn Thị N1 bồi thường số tiền thiệt hại 185 cây keo là 9.250.000 đồng (Chín triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng); số tiền ngày công bị thiệt hại là 9.000.000 đồng; số tiền xăng xe 600.000 đồng. (Tổng cộng 18.850.000 đồng).

Bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Ngày 03/10/2023 nguyên đơn ông Võ Đức H kháng cáo bản án số 04/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:

  1. Buộc gia đình ông Võ Kim C trả lại cho ông Võ Đức H diện tích đất đã lấn chiếm là 853m² tại hai thửa đất số 04 và 07 thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể: Chiều rộng trên đỉnh phía Tây 6,7m; chiều dài cạnh phía Nam giáp đất ông Võ Kim C 100m; chiều dài cạnh giáp đất gia đình ông Võ Đức H1 140m; chiều dài phía dưới chân phía Đông dài 45m.
  2. Buộc gia đình ông Võ Kim C thanh toán cho ông Võ Đức H số tiền không khai thác được tài sản trên đất tại phần diện tích đất đang có tranh chấp là 9.250.000 đồng (chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền này tính ngày công ông không đi làm được trong 30 ngày là 9.000.000 đồng. Tiền xăng xe mỗi lần đi hết 5000 đồng, đi về hết 5000 đồng, trong một tháng hết 600.000 đồng. Tổng cộng tiền công và tiền xăng xe đi lại tại Tòa án là 9.600.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Võ Đức H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Đức H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, thửa đất đang tranh chấp có địa chỉ tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.

Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Tuy nhiên nguyên đơn đã có đơn từ chối người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp do vậy Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn:

[2.1] Xét nguồn gốc đất tranh chấp của nguyên đơn:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm xác định nguồn gốc các thửa đất đang tranh chấp như sau:

Thửa đất số 04 tờ bản đồ 69 và thửa số 07 tờ bản đồ số 30 được cấp cho bà Phạm Thị L, năm 2018 khi bà Phạm Thị L chết, thửa đất số 04 và 07 để lại cho ông Võ Đức H, ông Võ Đức H1 và bà Võ Thị H2. Thửa đất số 06 tờ bản đồ 69 và thửa số 10 tờ bản đồ số 30 cấp cho ông Võ Kim C và bà Nguyễn Thị N1. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa 04; 07; 06 và 10 đều được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, đảm bảo trình tự và theo quy định pháp luật. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều được xác định ranh giới cụ thể, diện tích thửa đất được đảm bảo theo quy định pháp luật. Trong quá trình tố tụng nguyên đơn và bị đơn đều không có ý kiến gì đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước.

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/4/2023 và ngày 08/5/2023 đều thể hiện tổng diện tích tranh chấp là 396,1m², nằm trong thửa đất số 04 thuộc quyền quản lý, sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị L. Tuy nhiên, nguyên đơn không đồng ý với kết quả đo đạc và cho rằng việc đo đạc không đúng như hiện trạng, diện tích đất tranh chấp và không đúng với yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy ngày 14/7/2023 và 06/9/2023 Toà án nhân dân huyện Đức Thọ đã tiến hành xem xét, thẩm định lần 02 theo yêu cầu của nguyên đơn và các đương sự đều thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ. Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ lần 02 ngày 14/7/2023 và 06/9/2023 thể hiện diện tích đất đang tranh chấp có diện tích lấn lượt là 538,5m² và 57,2m² đều nằm trong thửa đất số 06 và 10 đã được cấp cho ông Võ Kim C và bà Nguyễn Thị N1. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn ông Võ Đức H cho rằng bị đơn ông Võ Kim C đã lấn chiếm tại hai thửa đất số 04 và 07 với diện tích 853m² là không có cơ sở để chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Võ Kim C bồi thường thiệt hại cho mình số tiền 9.250.000 đồng, thiệt hại do không trồng được cây trên diện tích đất tranh chấp và 9.600.000 đồng tiền công đi lại. Xét thấy do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Đức H không được chấp nhận nên việc yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại số tiền 9.250.000 đồng thiệt hại do không trồng được cây trên diện tích đất tranh chấp và 9.600.000 đồng tiền công đi lại của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận.

Từ những phân tích trên, xét thấy không đủ căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Đức H

[2.3] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 158, 165 và 166 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ở cấp ở sơ thẩm xác định hết 9.538.100 đồng. Ông H đã nộp 4.475.100 đồng tại hoá đơn giá trị gia tăng ngày 09/5/2023 của Văn phòng Đ. Số tiền còn lại ông Võ Đức H phải nộp cho Toà án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh là 5.063.000 đồng (năm triệu không trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 144, Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 4 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 27, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi và là người có công với cách mạng nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ông Võ Đức H số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013127 ngày 21/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí và là người có công với cách mạng nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Đức H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 148 ; Điều 157; Điều 158; Điều 235; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 166, Điều 175, Điều 176, Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 24; Điều 26; Điều 27; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí;

Tuyên xử:

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đức H về việc:
    • - Buộc ông Võ Kim C và bà Nguyễn Thị N1 trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 853m² tại thửa đất số 04 tờ bản đồ số 69 và thửa đất số 07 tờ bản đồ số 30 thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
    • - Buộc ông Võ Kim C và bà Nguyễn Thị N1 bồi thường số tiền thiệt hại 185 cây keo là 9.250.000 đồng (Chín triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng); số tiền ngày công bị thiệt hại là 9.000.000 đồng; số tiền xăng xe 600.000 đồng. (Tổng cộng 18.850.000 đồng).
  2. Về chi phí tố tụng: Buộc nguyên đơn ông Võ Đức H phải chịu 9.538.100 đồng chi phí xem xét, thẩm tại chỗ. Ông Võ Đức H đã nộp 4.475.100 đồng theo hoá đơn giá trị gia tăng ngày 09/5/2023 của Văn phòng Đ. Số tiền còn lại ông Võ Đức H phải nộp cho Toà án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh là 5.063.000 đồng (năm triệu không trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về án phí:
    • - Án phí sơ thẩm: Ông Võ Đức H là người cao tuổi và là người có công với cách mạng nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    • Hoàn trả cho ông Võ Đức H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0013127 ngày 21/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
    • - Án phí phúc thẩm: Ông Võ Đức H là người cao tuổi và là người có công với cách mạng nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TAND huyện Đức Thọ;
  • - VKSND huyện Đức Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 39/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Đức H - Võ Kim C "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger