|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày: 26-4-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Thu Hường
+ Ông Đặng Viết Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP . xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Ngô Thị T, sinh năm 1980; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã C, huyện Ứ, TP .; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Hữu T1 và con bà Lê Thị T2; chồng: Nguyễn Vân H; con: có 03 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008); Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 24/01/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khởi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)
-
Nguyễn Danh H1, sinh năm 1980; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh H2 (đã chết) và con bà Đoàn Thị T3; vợ: Nguyễn Thị P; con: 03 con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2014);
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 2015, bị Đồn Công an V - Công an huyện Ứ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bằng hình thức phạt tiền, đã chấp hành.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 24/01/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khởi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)
-
Nguyễn Tiến D, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT: 107 - B6, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và con bà Phan Thị Kim L; vợ: Nguyễn Thị H3; con: có 02 con (con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2001). Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 24/01/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khởi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)
-
Nguyễn Tiến H4, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến D1 và con bà Nguyễn Thị K; vợ: Nguyễn Thị Kim D2; con: có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017). Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 24/01/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khởi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)
-
Nguyễn Vân H5, sinh năm 1970; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vân S (đã chết) và con bà Nguyễn Thị N1 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị T4; con: có 02 con (con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2001). Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 24/01/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khởi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)
-
Nguyễn Vân H6, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vân Đ (đã chết) và con bà Nguyễn Thị D3; vợ: Duy Thị Phương T5; con: có 01 con sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 24/01/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khởi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)
-
Đặng Văn S1, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã S, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C và con bà Nguyễn Thị M; vợ: Đặng Thị H7; con: có 02 con (con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2000). Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 24/01/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khởi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Vân S2: Ông Nguyễn Ngọc C1 -Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 21/01/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của Ngô Thị T, sinh năm 1980, ở thôn T, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội có một số đối tượng đang đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền. Tổ công tác Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an huyện Ứ phối hợp với Công an xã C đã tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang: Ngô Thị T, sinh năm 1980; Nguyễn Danh H1, sinh năm 1980; Nguyễn Vân H6, sinh năm 1990; Nguyễn Vân H5, sinh năm 1970; Nguyễn Tiến H4, sinh năm 1988, đều có hộ khẩu thường trú: thôn T, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Đặng Văn S1, sinh năm 1976, hộ khẩu thường trú: thôn N, xã S, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Nguyễn Tiến D, sinh năm 1976, hộ khẩu thường trú: số A, phường T, quận T, thành phố Hà Nội đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “liêng”. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển T, H1, H6, H5, H4, S1, D về Công an huyện Ứ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại chiếu bạc: số tiền 5.570.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân mặt sau màu đỏ; Thu giữ trên người Nguyễn Vân H5 số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Vân H6 số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Tiến D số tiền 1.500.000 đồng, Nguyễn Danh H1 số tiền 700.000 đồng.
Quá trình điều tra các bị can khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/01/2024, Ngô Thị T đang ở nhà tại thôn T, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội thì lần lượt Nguyễn Vân H5 sinh năm 1970, Nguyễn Danh H1 sinh năm 1980, Nguyễn Vân H6 sinh năm 1990, Nguyễn Tiến H4 sinh năm 1988 đều ở cùng thôn với T; Đặng Văn S1 sinh năm 1976, hộ khẩu thường trú: N, S, Ứ, Hà Nội, Nguyễn Tiến D sinh năm 1976, hộ khẩu thường trú: A, T, T, Hà Nội đến ngồi chơi uống nước. Trong khi ngồi uống nước tất cả rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền, tất cả đồng ý. T lấy chiếu trải ra giữa nền nhà phòng khách và lấy một bộ bài tú lơ khơ 52 quân mặt sau có màu đỏ có sẵn trên kệ ti vi bỏ xuống chiếu; Tất cả ngồi xuống chiếu đánh bạc dưới hình thức “liêng”.
Thể lệ chơi như sau: sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia cho mỗi người chơi 03 quân bài. Quy định đánh gom 20.000 đồng, tố cao nhất 200.000 đồng.
Bắt đầu chơi đánh theo vòng tay phải, người chơi có thể lựa chọn “áp bài” để bỏ ván chơi hiện tại và sẽ mất số tiền đã gom hoặc chọn “theo” để tiếp tục chơi, nếu như có người tố trước đó thì khi theo người chơi sẽ phải bỏ thêm tiền bằng số tiền người chơi trước bỏ xuống chiếu. Ván chơi kết thúc khi chỉ còn một người không úp bài hoặc không ai tố thêm tiền nữa. Nếu mọi người chơi vẫn còn bài mà không ai tố thêm tiền nữa thì sẽ ngửa bài để so từ bé đến lớn là điểm, ảnh, liêng, sáp: “Điểm” được cộng từ số của 3 quân bài, điểm cao nhất là 9, điểm thấp nhất là 0, quân A tính là 1 điểm, quân 10, j, Q, K tính là 0 điểm; “Ảnh” là 3 quân bài đều có hình người như J, Q, Q; K, Q, Q, ...; “Liêng” là có 3 quân bài liên tiếp nhau không cần cùng chất, liêng bé nhất là A, 2, 3; liên to nhất là Q, K, A; “Sáp” là 3 quân bài giống nhau, sáp bé nhất là 2, 2, 2; sáp to nhất là A, A, A. Người thắng ván bài sẽ được thu số tiền đã gom, theo và tố của ván chơi đó. Ván chơi tiếp theo sẽ tiếp tục gom và người thắng ở ván trước sẽ chia bài. Tất cả ngồi chơi liên tục đến 15 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 20 tháng 3 năm 2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố các bị cáoNgô Thị T, Nguyễn Danh H1, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Tiến H4, Nguyễn Vân H5, Nguyễn Vân H6 và Đặng Văn S1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS.
Tại phiên toà: Các bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Ngô Thị T, Nguyễn Danh H1, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Tiến H4, Nguyễn Vân H5, Nguyễn Vân H6 và Đặng Văn S1 phạm tội “Đánh bạc”
- * Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt:
- + Bị cáo Ngô Thị T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
- + Bị cáoNguyễn Tiến D, Nguyễn Tiến H4, Nguyễn Vân H5 và Nguyễn Vân H6 mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Đặng Văn S1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Bị cáo Nguyễn Danh H1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân có mặt lưng màu đỏ; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 9.770.000 đồng (Chín triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).
- * Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Đồng ý về mặt tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người khuyết tật, bố mẹ già để giảm nhẹ hình phạt dưới mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Điều tra viên Công an huyện Ứ đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự và thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, phù hợp với các quy định của BLTTHS.
[2] Tại phiên toà các bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, lời khai của bị cáo này là bằng chứng cho lời khai của bị cáo kia và phù hợp với vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 21/01/2024, tại nhà ở của Ngô Thị T ở thôn T, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội: Ngô Thị T, Nguyễn Danh H1, Nguyễn Vân H6, Nguyễn Vân H5, Nguyễn Tiến H4, Đặng Văn S1, Nguyễn Tiến D đã đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền dưới hình thức “liêng”. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.770.000 đồng (chín triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) .
Hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh của khu dân cư và là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn gia đình và các tệ nạn xã hội khác. Bản thân các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đều nhận thức rõ được tác hại của việc đánh bạc. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
[3] Xem xét về tính chất, vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo T là chủ nhà đồng ý cho các bị cáo chơi đánh bạc tại nhà mình; chuẩn bị công cụ: bộ tú lơ khơ 52 quân và đã chủ động trải chiếu và cùng tham gia chơi đánh bạc với các bị cáo còn lại. Bị cáo H1 có nhân thân xấu, năm 2015, bị Đồn Công an V - Công an huyện Ứ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” nên mức hình phạt phải tương đương với bị cáo T và cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo H6, H5, H4, S1 và D đều phạm tội có mức độ ngang nhau và có vai trò ngang nhau trong vụ án, cùng có số tiền tham gia đánh bạc ngang nhau nên cần áp dụng hình phạt ngang nhau. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời đảm bảo phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong vụ án:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T, H6, H5, H4, S1 và D phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại Toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo S1 là người khuyết tật nên Hội đồng xét xử xét cho bị cáo them tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đối với bị cáo H1 phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo là Thương binh hạng 4/4, vợ bị cáo mắc bệnh ung thư, con còn nhỏ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự (trừ bị cáo H1), có nơi cư trú rõ ràng; bản thân các bị cáo đều bị tạm giữ, trong thời gian tạm giữ đều nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai và đều ăn năn hối cải và xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung với tất cả các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền: 9.770.000 đồng thu giữ của các bị cáo đã và sẽ sử dụng để đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước và tịch thu 01 bộ tú lơ khơ 52 quân có mặt lưng màu đỏ là phù hợp với Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 BLTTHS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Ngô Thị T, Nguyễn Danh H1, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Tiến H4, Nguyễn Vân H5, Nguyễn Vân H6 và Đặng Văn S1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt:
- + Bị cáo Ngô Thị T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án ngày 26/4/2024.
- + Các bị cáo Nguyễn Tiến D, Nguyễn Tiến H4, Nguyễn Vân H5 và Nguyễn Vân H6 mỗi bị cáo 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án ngày 26/4/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Bị cáo Đặng Văn S1 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án ngày 26/4/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: bị cáo Nguyễn Danh H1 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án ngày 26/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Giao bị cáo Ngô Thị T, Nguyễn Danh H1, Nguyễn Tiến H4, Nguyễn Vân H5 và Nguyễn Vân H6 cho UBND xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Tiến D cho UBND phường T, quận T, thành phố Hà Nội và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Đặng Văn S1 cho UBND xã S, huyện Ứ, thành phố Hà Nội và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt:
- Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền: 9.770.000đ (Chín triệu, bảy trăm bảy mươi nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân mặt lưng màu đỏ. (Tình trạng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 27/3/2024 và giấy ủy nhiệm chi ngày 25/3/2024. )
- Về án phí: Các bị cáo Ngô Thị T, Nguyễn Danh H1, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Tiến H4, Nguyễn Vân H5, Nguyễn Vân H6 và Đặng Văn S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Bích Hằng |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Thuỷ và đồng phạm
