Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HSST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hiến Công Hanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Đức Cường và ông bà Long Thị Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Khuyến, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Thơm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: BÙI QUỐC Đ

(tên gọi khác: Không); sinh ngày 14/03/1999 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân D và con bà Ma Thị T; vợ: Chúc Thị M; con: Có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn theo Lệnh tạm giam số 182/LTG-ĐCSKT-MT ngày 26/7/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lý Văn Tr, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ pháp lý tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 19/7/2024, Tổ công tác của Công an xã Y, huyện C đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã phát hiện và bắt quả tang Bùi Quốc Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 (một) gói giấy màu bạc, bên trong có một gói giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng chứa chất dạng cục và bột màu trắng do Đ tự nguyện xuất trình từ túi quần sau bên trái chiếc quần Đ đang mặc trên người. Tiến hành trích mẫu cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy, kết quả thuốc thử phản ứng dương tính với ma túy loại Heroine (được niêm phong vào phong bì ký hiệu Đ1). Ngoài ra cơ quan công an còn tạm giữ 01 xi lanh nhựa loại 03ml/cc đã qua sử dụng (được niêm phong vào phong bì kí hiệu Đ2).

Tại Biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng hồi 07 giờ 00 phút ngày 20/7/2024 xác định: Chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Đ1 có khối lượng 0,27 gam (không phẩy hai bảy gam). Sau khi cân xác định khối lượng, số chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Đ1 được niêm phong tại phong bì ký hiệu Đ3 để gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định; hai mảnh giấy và phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong tại phong bì ký hiệu Đ4.

Tại bản kết luận giám định số 260/KTHS-MT ngày 26/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Đ3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroine); có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục chất ma tuý và tiền chất. Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Đ3 có khối lượng 0, 27 gam (không phẩy hai bảy gam).

Quá trình điều tra Bùi Quốc Đ khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 19/7/2024, Đ một mình bắt xe khách từ xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn xuống thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày Đa đến ngã ba L thuộc thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì xuống xe, tại đây Đa gặp một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) khoảng tuổi 40 và mua với người đàn ông này 01(một) gói ma tuý được gói bằng giấy bạc với giá 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua ma tuý, Đ cất vào túi quần đằng sau bên trái đang mặc rồi đi bộ theo hướng về huyện C, tỉnh Bắc Kạn và gặp một người đàn ông không quen biết đi xe máy về hướng đi về huyện C nên Bùi Quốc Đ xin đi nhờ xe. Đến ngã ba K thuộc thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì Đ xuống xe đi bộ về xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để về nhà, khi đi đến đoạn đường thuộc thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị phát hiện và bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSCĐ ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Bùi Quốc Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn phát biểu ý kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Quốc Đ từ 12 đến 18 tháng tù. Phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong (bên trong có chứa số ma túy còn lại sau giám định, 01 xi lanh nhựa và các bao bì niêm phong, giấy gói ban đầu).

Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Bùi Quốc Đ là người đã bán ma túy Heroine cho Đ tại khu vực ngã ba L thuộc thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Kết thúc điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xử lý.

Áp dụng Điều 135, Điều 136/BLTTHS; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận đề nghị gì, xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày bản luận cứ bào chữa, đề nghị: Nhất trí về tội danh cáo trạng truy tố và điều luật áp dụng đề nghị tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát. Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn có phần hạn chế; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trước khi phạm tội có nhân thân tốt đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị. Không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/7/2024 tại ngã ba L thuộc thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Quốc Đ có hành vi mua trái phép 01 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,27gam (không phẩy hai bảy gam) với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) với 01 người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ để sử dụng cá nhân. Số ma túy trên Đ cất túi quần đằng sau bên trái quần Đ đang mặc trên người. Sau đó đi nhờ xe mô tô đến xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn và đi bộ về nhà, đến đoạn đường thuộc thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Công an xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn phát hiện, bắt quả tang thu toàn bộ số ma túy.

Hành vi tàng trữ 0,27 gam (không phẩy hai bảy gam) ma túy nêu trên của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 39/CT-VKSCĐ ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo thực hiện:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án tiền sự nhưng có sử dụng chất ma tuý; tại Công văn số 688/CV-NB ngày 23/7/2024 của UBND xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn xác nhận và đề nghị với cơ quan CSĐT Công an huyện C thì bị cáo có dấu hiệu bán lẻ ma tuý gây mất an ninh trật tự tại địa phương, do vậy tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo có nhân thân tốt là chưa phù hợp, mức hình phạt tù đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo nằm trong khung hình phạt quy định của điều luật truy tố nên được chấp nhận.

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa có căn cứ xác định: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn

nhận thức về pháp luật còn có phần hạn chế vì vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các bao bì liên quan đến việc niêm phong ma túy.

[7] Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Bùi Quốc Đạt là người đã bán ma túy Heroine cho Đ tại khu vực ngã ba lương thực cũ thuộc thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Kết thúc điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là dân tộc thiểu số sinh sống tại tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn nộp án phí vì vậy bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Quốc Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 20/7/2024.

Hình phạt bổ sung phạt tiền: Không áp dụng.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T166 bên trong phong bì có chứa 0,23 gam ma túy loại Heroine cùng phòng bì ký hiệu Đ3 do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan CSĐT Công an huyện C;
  • + 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu Đ2, bên trong chứa 01 xi lanh nhựa loại 03ml/cc đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu Đ4, bên trong giấy gói ban đầu cùng phong bì ký hiệu Đ1 và giấy gói ban đầu.

(Tình trạng vật chứng mô tả như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bắc Kạn).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện C;
  • - CA huyện C;
  • - THADS huyện C;
  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án .

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Hiến Công Hanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 39/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Quốc Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger