| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN BẮC TÂN UYÊN | |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG |
| Bản án số:39/2023/HS-ST | |
| Ngày: 25-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Lợi.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Bạch Thủy Vĩnh;
- Ông Bồ Quốc Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Danh Bé, sinh năm 1997, tại Kiên Giang. Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: Áp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh H, sinh năm 1961 (Đã chết) và bà Thị H1, sinh năm 1964, vợ Hồ Thị P, sinh năm 1995 (sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn), có 01 người con, sinh năm 2019.
Tiền án: Không;
Tiền sự:
- Ngày 29/3/2022, bị Công an xã Đ, huyện B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc tại Quyết định số 22/QĐ-XPHC, ngày 06/4/2022 bị cáo chấp hành xong việc nộp phạt.
- Ngày 23/11/2021, bị Công an xã Đ, huyện B xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng rượu bia gây mất trật tự công cộng tại Quyết định số 135/QĐ-XPHC, ngày 04/01/2022 bị cáo chấp hành xong việc nộp phạt.
Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH MTV T. Địa chỉ: Số A Khu B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Vòng L – Chức vụ: Chủ tịch công ty kiêm Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp: Vòng Quay Pẩu, địa chỉ: Số A Khu B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Người làm chứng:
Ông Hồ Thế A, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Danh Bé và Huỳnh Văn N (sinh năm 1984, HKTT: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang) là bạn ngoài xã hội. Bé là công nhân của Công ty TNHH P1, Nhiều làm phụ hồ cho công trình xây dựng Công ty TNHH P1 ở Khu A, khu công nghiệp KSB Đất Cuốc thuộc xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 18/7/2022, N điều khiển xe máy biển số 68HR – 1307 đến bãi đất trống tại khu A khu công nghiệp KSB Đất Cuốc thuộc xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương uống rượu cùng với B. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi uống rượu xong, Nhiều rủ Bé vào công trình xây dựng nhà xưởng của công ty P1 tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì B đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 68HR – 1307 chở Bé đến khu vực bên cạnh tường rào công ty P1 cất giấu xe máy rồi cả hai cùng trèo qua tường rào vào bên trong công trình xây dựng nhà xưởng của công ty P1 do công ty TNHH MTV T, địa chỉ: Khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thi công. Tại đây, B và N lấy trộm 01 (Một) máy cắt cỏ hiệu Stil FS22NL, 01 (Một) máy bào hiệu Hit – Min, 01 (Một) máy nổ hiệu Vikyno của công ty T. Sau đó, B và Nhiều mang tài sản trộm cắp được đến khu vực tường rào công ty L để mang ra ngoài tìm nơi tiêu thụ. Lúc này, ông Hồ Thế A (sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ E, khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương) là bảo vệ của Khu công nghiệp KSB Đất Cuốc phát hiện nên truy hô. Biết hành vi trộm cắp tài sản bị phát hiện nên B, Nhiều bỏ tài sản trộm cắp được tại hiện trường rồi lên xe máy biển số 68HK – 1307 tẩu thoát. Sau đó, ông Thế A điện thoại báo cho Công an xã Đ, huyện B đến lập biên bản vụ việc. Qua công tác truy xét, đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Công an xã Đ mời Nhiều, Bé đến trụ sở làm việc và Nhiều, B đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình. Công an xã Đ tiến hành tạm giữ vật chứng gồm:
- - 01 (Một) máy cắt cỏ hiệu Stil FS22NL;
- - 01 (Một) máy bào hiệu Hit – Min;
- - 01 (Một) máy nổ hiệu Vikyno;
- - 01 (Một) xe máy không rõ nhãn hiệu màu đỏ đen biển số 68HR - 1307, số khung BAMN9H013326, số máy FBM00013326;
- - 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe máy đen biển số 68HR - 1307.
Sau đó, Công an xã Đ lập hồ sơ ban đầu chuyển cho cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 03/KLHĐ-ĐGTS ngày 10/01/2023 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 01 (Một) máy cắt cỏ hiệu Stil FS22NL, 01 (Một) máy bào hiệu Hit – Min, 01 (Một) máy nổ hiệu Vikyno đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt có tổng giá trị là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: 01 (Một) máy cắt cỏ hiệu Stil FS22NL, 01 (Một) máy bào hiệu Hit – Min, 01 (Một) máy nổ hiệu Vikyno đã qua sử dụng. Ngày 05/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định xử lý vật chứng số 12 trả lại cho ông V Quay Pẩu là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV T toàn bộ tài sản nêu trên vào ngày 13/4/2023, Công ty TNHH MTV T không có yêu cầu gì khác.
Đối với xe xe máy không rõ nhãn hiệu màu đỏ đen biển số 68HR - 1307, số khung BAMN9H013326, số máy FBM00013326 do bà Thị Út L (sinh năm 1990; địa chỉ: ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Hiện tại bà L không có mặt tại nơi cư trú nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được. Nhiều khai mua lại xe máy này để làm phương tiện đi lại nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định. Ngày 18/7/2022, N điều khiển xe này chở B đến công trình xây dựng nhà xưởng của công ty P1 tại khu A khu công nghiệp KSB Đất Cuốc để trộm cắp tài sản của công ty T. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng tại Văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác định xe này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành thông báo tìm chủ sở hữu đối với xe máy biển số 68HR – 1307 gửi Đài phát thanh và truyền hình B2 để phát sóng trên sóng đài phát thanh nhưng đến nay không có kết quả.
Trong quá trình điều tra bị can Huỳnh Văn N đã chết vào ngày 03/5/2023 theo Giấy chứng tử số: 419/TLKT-BS ngày 05/5/2023 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Quyết định đình chỉ điều tra bị can số: 01/QĐ-CQCSĐT ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với Huỳnh Văn N
Cáo trạng số 48/CT-VKS.BTU ngày 28/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Danh B1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Danh B1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của Danh B1, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Danh B1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại xin bãi nại xin giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo có con nhỏ, kinh tế khó khăn, có trình độ học vấn thấp là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Danh B1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Về xử lý vất chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với xe máy không rõ nhãn hiệu màu đỏ đen biển số 68HR - 1307, số khung BAMN9H013326, số máy FBM00013326 do bà Thị Út L (sinh năm 1990; địa chỉ: ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang) đứng tên đăng ký chủ sở hữu và Giấy chứng nhận đăng ký xe số 003190, mang tên Thị Út L, biển số 68HR-1307 cấp ngày 17/8/2011. Hiện tại bà L không có mặt tại nơi cư trú nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được. Nhiều khai mua lại xe máy này để làm phương tiện đi lại nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định. Ngày 18/7/2022, N điều khiển xe này chở B1 đến công trình xây dựng nhà xưởng của công ty P1 tại khu A khu công nghiệp KSB Đất Cuốc để trộm cắp tài sản của công ty T, xét đây là phương tiện Nhiều và Bé sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo Danh B1 cho rằng Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi; quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người nêu trên tại phiên tòa.
[2] Về nội dung vụ án Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 18/7/2022, tại Công trình xây dựng nhà xưởng của công ty P1 tại khu A, thuộc khu công nghiệp K Đất Cuốc thuộc xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương; Danh Bé và Huỳnh Văn N lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của Công ty TNHH MTV T lén lút chiếm đoạt 01 (Một) máy cắt cỏ hiệu Stil FS22NL, 01 (Một) máy bào hiệu Hit – Min, 01 (Một) máy nổ hiệu Vikyno đã qua sử dụng có tổng trị giá là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) của Công ty T.
Như vậy, Cáo trạng số 48/CT-VKS.BTU ngày 28/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Danh B1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, bị cáo đã thực hiện tội phạm mà không nghĩ đến sự trừng phạt của pháp luật. Bản thân bị cáo có 02 tiền sự ngày 23/11/2021, bị Công an xã Đ, huyện B xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng rượu bia gây mất trật tự công cộng tại Quyết định số 135/QĐ-XPHC, ngày 04/01/2022 bị cáo chấp hành xong việc nộp phạt; Ngày 29/3/2022, bị Công an xã Đ, huyện B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc tại Quyết định số 22/QĐ-XPHC, ngày 06/4/2022 bị cáo chấp hành xong việc nộp phạt. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
[4] Về vai trò đồng phạm của các bị cáo: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Huỳnh Văn N và Danh B1 là người là những người thực hành tích cực.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Danh B1 không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo có con nhỏ hiện nay điều kiện kinh tế khó khăn, có trình độ học vấn thấp là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, sớm nhận ra lỗi lầm của mình, an tâm cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Xét thấy, mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ, nên hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với xe xe máy không rõ nhãn hiệu màu đỏ đen biển số 68HR - 1307, số khung BAMN9H013326, số máy FBM00013326 do bà Thị Út L (sinh năm 1990; địa chỉ: ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang) đứng tên đăng ký chủ sở hữu và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 003190, mang tên Thị Út L, biển số 68HR-1307 cấp ngày 17/8/2011. Nhiều khai mua lại xe máy này để làm phương tiện đi lại nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định. Ngày 18/7/2022, N điều khiển xe này để trộm cắp tài sản của công ty T, xét đây là phương tiện Nhiều và B1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Danh B1 phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Danh B1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo D Bé 06 (S) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu màu đỏ, biển số 68HR-1307, số khung: BAMN9H013326, số máy: FBM 00013326 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 003190, mang tên Thị Út L, biển số 68HR-1307 cấp ngày 17/8/2011.
(Thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa Công an huyện B, tỉnh Bình Dương với Chi cục Thi hành án dân sự huyện bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Danh B1 chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Tiến Lợi |
Bản án số 39/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 39/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Danh B - Trộm cắp tài sản
