|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày: 25/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Công Giáo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Chiến
- Ông Hồ Xuân Dũng
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Lưu Công Quyền – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1096/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Quang V; sinh ngày 13/3/1994, tại thị xã H, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố C, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần V1, sinh năm: 1964 và bà Phạm Thị H (chết); Vợ, con: Chưa có;
Tiền án:
- + Ngày 28/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 25/2014/HSST.
- + Ngày 25/3/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 25/2014/HSST ngày 28/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, bị cáo phải chấp hành 24 tháng tù theo Bản án số 13/2015/HSST. Bị cáo chấp hành xong ngày 19/6/2016.
- + Ngày 17/02/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 02/2017/HSST.
- + Ngày 22/02/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 07/2017/HSST.
- + Ngày 15/8/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 24 tháng tù của Bản án số 02/2017/HSST ngày 17/02/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định và 15 tháng tù của Bản án số 07/2017/HSST ngày 22/02/2017của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, Bị cáo phải chấp hành 81 tháng tù theo Bản án số 113/2017/HSST. Bị cáo chấp hành xong ngày 21/5/2023.
Tiền sự: không
Nhân thân:
- + Ngày 08/9/2011, bị Ủy ban nhân dân thị trấn B, thị xã H ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, thời hạn 06 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản.
- + Ngày 29/12/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 107/2023/HS-ST.
- + Bị cáo đang bị các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện P điều tra, xử lý về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Định. Bị cáo có mặt
2. Họ và tên: Phan Thanh T; sinh ngày 06/7/1999, tại thị xã H, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố Đ, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Quyết T1, sinh năm: 1977 và bà Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1979; Vợ: Nguyễn Thị Thu V2, sinh năm: 2004, con: 01 người sinh năm: 2022; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Năm 2021, bị Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”, hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng, (đã nộp phạt);
- + Năm 2022, bị Công an phường H, thị xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây mất trật tự khu dân cư”, hình thức phạt tiền 300.000 đồng, (đã nộp phạt);
- + Ngày 28/9/2023, bị Công an thị xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 31/5/2023, hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng, (chưa nộp phạt).
- + Bị cáo đang bị các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện P điều tra, xử lý về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P. Bị cáo có mặt.
* Người bị hại: Anh Lê Thanh T2, sinh năm: 1999; Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lê Đức T3, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (có mặt)
- - Anh Phan Đình T4, sinh năm:2002; Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt)
- - Anh Triệu Tòn S, sinh năm: 2004; Địa chỉ: Bản Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt)
* Người làm chứng:
- - Anh Lê T5, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Khu phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (vắng mặt)
- - Anh Trần Ngọc T6, sinh năm: 1999; Địa chỉ: Thôn F, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt)
- - Anh Đặng Quang H2, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quang V và Phan thanh T7 bàn bạc cùng nhau đi trộm cắp xe mô tô của người khác để sử dụng. Khoảng 19 giờ ngày 18/8/2023, Trần Quang V và Phan Thanh T mang theo một ba lô bên trong có 01 (một) cái kềm, 01 (một) cái cờ lê 10, 01 (một) cái khóa 10, 01 (một) cây lục giác, 01 cái tua vít; biển số xe mô tô 81B1-613.52 (Biển số này cả hai tháo trộm trên địa bàn huyện K, tỉnh Gia Lai) rồi đón xe khách đi từ thị xã H đến ngã tư Cầu B, thuộc xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Sau đó, cả hai thuê xe ôm đi theo Quốc lộ A về hướng tỉnh Gia Lai. Khi đến trước cổng khu Công nghiệp N thuộc khu V, phường N, thị xã A, cả hai xuống xe rồi tiếp tục đi bộ theo quốc lộ 19 hướng về phía Tây, tìm kiếm xe mô tô để lấy trộm. Khi đi qua quán nhậu “T8”, thuộc thôn T, xã N, thị xã A, Phan Thanh T phát hiện một xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150cc, màu sơn: xanh – đen, biển kiểm soát 77F1-615.81của anh Lê Thanh T2 ở thôn Đ, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định mượn của anh ruột là Lê Đức T3 ở cùng địa chỉ dựng trên vỉa hè phía trước, bên trái quán nhậu. Cả hai thống nhất sẽ lấy trộm xe mô tô này. Trần Quang V đứng ngoài cảnh giới, Phan Thanh T đến dắt xe ra ngoài rồi cả hai dắt xe đi vào khoảnh đất trống cách vị trí dựng xe khoảng 10 mét. Cả hai dùng cây lục giác tháo bửng chắn gió, rút dây ổ khóa, khởi động xe, rồi điều khiển xe rời đi. Trên đường đi, cả hai dừng lại, tháo biển kiểm soát 77F1-615.81 vứt ven đường rồi đến nhà bạn gái của Trần Quang V ở xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai nghỉ lại. Đến chiều ngày 19/8/2023, cả hai tiếp tục sử dụng xe mô tô nói trên đi về tỉnh Bình Định, trên đường đi cả hai lấy biển kiểm soát 81B1-613.52 gắn vào rồi tiếp tục di chuyển về thị xã H.
Khoảng 10 ngày sau, Phan Thanh T đến một tiệm sửa xe mô tô ở phường B, thị xã H (không xác định tên tiệm, địa chỉ) thay một cặp vành xe khác kích cỡ nhỏ hơn, 01 (một) chân số 02 chiều và gắn 01 (một) cái vè chắn bùn lốp sau xe, đèn trợ sáng vào tay ga bên phải xe, sơn màu đen vào phần nhựa dưới ba ga giữa xe. Đến ngày 02/9/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, Phan Thanh T thống nhất trao đổi xe mô tô nói trên với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 135 của Phan Đình T4. Đến khoảng 23 giờ ngày 02/9/2023, Phan Thanh T rủ Lê T5 đến tỉnh Đăk Nông chơi. Phan Thanh T tháo biển kiểm soát 81B1-613.52 để ở nhà rồi chở T5 đến nhà Phan Đình T4 thuê ở thôn I, xã Q, huyện T, tỉnh Đăk Nông. Phan Thanh T nói dối với Phan Đình T4 giấy tờ xe mô tô đang thế chấp tại F88 và biển kiểm soát tháo để ở nhà để tránh bị Cảnh sát Giao thông bắn tốc độ. Do xe của Phan Đình T4 bị hư, hai bên không trao đổi được. Đến ngày 05/9/2023, Phan Thanh T mượn 5.000.000 đồng của Phan Đình T4 (số tiền này Phan Đình T4 mượn của anh Trần Ngọc T6), gửi lại xe mô tô rồi cùng Lê T5 đón xe khách về nhà. Do không có tiền trả lại cho Phan Đình T4, Phan Thanh T nhờ Phan Đình T4 bán xe mô tô nói trên để trả nợ. Đến ngày 28/9/2023, Phan Đình T4 bán xe mô tô nói trên cho Triệu Tòn S với giá tiền 8.000.000 đồng.
Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu xanh – đen, biển kiểm soát 77F1-615.81 tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng).
* Vật chứng, tài liệu của vụ án bao gồm:
- - Xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn xanh - đen, không gắn biển số, số khung: 1010KY194684, số máy: G3D4E963714 đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã A trả lại cho anh Lê Thanh T2.
- - Các công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội đang bị các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện P, tỉnh Bình Định tạm giữ, xử lý theo quy định.
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Anh Lê Thanh T2 đã nhận lại xe mô tô, không yêu cầu gì.
- - Anh Phan Đình T4 yêu cầu bị cáo Phan Thanh T trả lại số tiền 5.000.000 đồng đã mượn; anh Phan Đình T4 đang giữ số tiền 8.000.000 đồng bán giúp cho Phan Thanh T xe mô tô trộm cắp.
- - Anh Triệu Tòn S không yêu cầu Phan Đình T4 trả lại số tiền 8.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 30/CT-VKSAN ngày 13/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn truy tố bị cáo Trần Quang V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Phan Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quang V từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 107/2023/HSST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thanh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về phần dân sự:
- - Anh Lê Thanh T2 đã nhận lại xe mô tô, không yêu cầu gì nên không xem xét.
- - Anh Triệu Tòn S không yêu cầu trả lại số tiền 8.000.000đ nên không xem xét
- - Buộc anh Phan Đình T4 nộp lại 8.000.000đ tiền thu lợi bất chính từ việc bán xe mô tô trộm cắp và sung vào Ngân sách nhà nước.
- - Buộc bị cáo Phan Thanh T trả cho anh Phan Đình T4 5.000.000₫
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Quang V, Phan Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện: Với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng, Trần Quang V và Phan Thanh T đã cùng nhau lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter BKS 77F1-615.81 trị giá 21.000.000 đồng của anh Lê Thanh T2 vào ngày 18/8/2023 tại thôn T, xã N, thị xã A. Bị cáo Trần Quang V cố ý thực hiện hành vi phạm tội khi đã tái phạm, chưa được xóa án tích tại các Bản án số 02/2017/HSST ngày 17/02/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn; Bản án số 07/2017/HSST, ngày 22/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định và Bản án số 113/2017HSST ngày 15/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai nên hành vi của bị cáo Trần Quang V phạm tội thuộc tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Phan Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo Trần Quang V, bị cáo Phan Thanh T đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thừa biết rằng quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm, chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật điều bị xử lý hình sự nhưng với bản chất tham lam muốn chiếm đoạt tài sản của người khác các bị cáo đã lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô của anh Lê Thanh T2. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo có nhân thân xấu, đặc biệt bị cáo Trần Quang V đã nhiều lần bị xử lý hình sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy dó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện. Do đó, cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn không có cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công nhiệm vụ. Bị cáo Phan Thanh T là người thực hành; bị cáo Trần Quang V là người giúp sức.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Quang V, Phan Thanh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Trần Quang V, Phan Thanh T thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Anh Phan Đình T4 là người nhận giữ và bán giúp xe mô tô cho Phan Thanh T, anh Triệu Tòn S là người mua xe mô tô của Phan Thanh T từ Phan Đình T4 nhưng Phan Đình T4, Triệu Tòn S không biết xe mô tô này là do Phan Thanh T trộm cắp nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã A không xử lý đối với Phan Đình T4, Triệu Tòn S về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Thanh T2 và anh Lê Đức T3 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra giao trả lại xe mô tô, không có yêu cầu gì nên không xem xét. Số tiền 8.000.000đ anh Phan Đình T4 bán giúp xe mô tô trộm cắp cho anh Triệu Tòn S là số tiền thu lợi bất chính nên buộc anh Phan Đình T4 phải nộp lại và sung ngân sách nhà nước. Anh Triệu Tòn S không yêu cầu anh Phan Đình T4 trả lại 8.000.000₫ nên không xem xét. Buộc bị cáo Phan Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho anh Phan Đình T4 5.000.000₫.
[8] Về án phí: Các bị cáo Trần Quang V, Phan Thanh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phan Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Quang V.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phan Thanh T.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Quang V, Phan Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- [2.1] Xử phạt bị cáo Trần Quang V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 107/2023/HSST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- [2.2] Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Thanh T2 và anh Lê Đức T3 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra giao trả lại xe mô tô, không có yêu cầu gì nên không xem xét. Số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) anh Phan Đình T4 bán giúp xe mô tô trộm cắp cho anh Triệu Tòn S là số tiền thu lợi bất chính nên buộc anh Phan Đình T4 phải nộp lại và sung ngân sách nhà nước. Anh Triệu Tòn S không yêu cầu anh Phan Đình T4 trả lại 8.000.000đ (tám triệu đồng) nên không xem xét. Buộc bị cáo Phan Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho anh Phan Đình T4 5.000.000đ (năm triệu đồng).
4. Về án phí: Bị cáo Trần Quang V, bị cáo Phan Thanh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Phan Thanh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Phan Công Giáo |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về vụ án hình sự về tội "trộm cắp tài sản"
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Trộm cắp tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quang Vũ, Phan Đình Tú phạm tội "Trộm cắp tài sản"
