Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Trình và ông Nguyễn Văn Phương;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Khoa Diệu H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/10/2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...], do Cục C1 về TTXH- Bộ C2 cấp; Nơi ĐKNKTT: Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chỗ ở hiện tại: Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khoa T (sinh năm 1973) và bà Lê Thị H1 (sinh năm 1973); Gia đình có 02 người, bị can là con thứ hai trong gia đình; Chồng: Sống như vợ chồng với anh Đặng Văn Q (sinh năm 2002); Con: Có 01 người con, sinh năm 2023; Tiền án: Không. Tiền sự: không.

Quá trình nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình tại tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, học văn hoá đến lớp 9 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình, sau đó sống như vợ chồng với Đặng Văn Q cho đến ngày phạm tội (04/02/2024).

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Đặng Văn Q, tên gọi khác: Không, sinh ngày 16/5/2002 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...] do Cục C1 về TTXH- bộ C2 cấp; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Á (sinh năm 1980) và bà Đinh Thị T1 (sinh năm 1975); gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất trong

gia đình; Vợ: Sống như vợ chồng với chị Nguyễn Khoa Diệu H (sinh năm 2005); Con: Có 01 con, sinh năm 2023; Tiền án: Không. Tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân: Còn nhỏ sống với gia đình tại Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, học văn hoá đến lớp 12 thì nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình, sau đó làm công nhân rồi sống như vợ chồng với Nguyễn Khoa Diệu H cho đến ngày phạm tội (ngày 04/02/2024).

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

  • + Ông Nguyễn Khoa S, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm: 1999; Địa chỉ: Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Hữu T3, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Ông Phan Ngọc C, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Tổ F, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Ông Lê Công X, sinh năm: 1999; Địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Minh H2, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ C, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 03/02/2024, Nguyễn Khoa Diệu H biết được chồng mình là Đặng Văn Q có nợ nần ngoài xã hội, nên H rủ Q lấy trộm tiền của anh trai H là anh Nguyễn Khoa S, sinh năm 1997, trú tại tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; để đưa cho Q đi trả nợ thì Q đồng ý (H, Q ở cùng nhà anh S). Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/02/2024, thấy vợ chồng anh S đi vắng, H lấy một cái ghế gỗ dựng sát vào tường bên ngoài phòng ngủ của vợ chồng anh S, rồi Q trèo qua tường đột nhập vào phòng ngủ của vợ chồng anh S, mở tủ lấy trộm số tiền 19.200.000 đồng. Đến chiều ngày 04/02/2024, Q, H đến nhà anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1991, trú tại tổ A, phường T, thị xã H, để dự tất niên cuối năm; tại đây Q đưa cho anh Phan Ngọc C, sinh năm 1996, trú tại tổ F, phường P, thị xã H số tiền 5.000.000 đồng để nhờ anh C chuyển vào tài khoản cho Q; sau đó, Q trả nợ cho anh Nguyễn Công X1, sinh năm 1999, trú tại tổ A, phường T, thị xã H; do anh X1 có nợ của anh Nguyễn Minh H2, sinh năm 1992, trú tại tổ C, phường T, thị xã H số tiền 5.000.000 đồng, nên X1 nhờ Q trả cho anh H2, số tiền còn lại là 14.200.000 đồng Q tiêu xài cá nhân hết.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo H và bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nói trên.

Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7G màu đen, bên trong có gắn sim số: 0393646969.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Nguyễn Khoa DĐặng Văn Q đã bồi thường đầy đủ số tiền 19.200.000 đồng cho vợ chồng anh Nguyễn Khoa S và chị Nguyễn Thị Thu T2; anh S và chị T2 đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo;

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKS-HTh ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q, về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Khoa Diệu H từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; xử phạt Đặng Văn Q từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7G màu đen, bên trong có gắn sim số: 0393646969 của Đặng Văn Q không liên quan đến tội phạm nên đề nghị trả lại cho bị cáo. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Bị hại và người làm chứng vắng mặt. Xét việc vắng mặt không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03/02/2024, tại Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q đã có hành vi trộm cắp số tiền 19.200.000 đồng của anh Nguyễn Khoa S và chị Nguyễn Thị Thu T2.

Tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt là 19.200.000 đồng (Mười chín triệu hai trăm ngàn đồng ) nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì tham lam nên các bị cáo vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của các bị cáo phạm tội có tính chất nhất thời nhưng hành vi này rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đã gây ra.

Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ với nhau trước. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét cũng cần phải xem xét đánh giá đến mức độ và hành vi phạm tội của mỗi bị cáo đã gây ra nhằm áp dụng đúng mức hình phạt đối với từng bị cáo trong vụ án, cụ thể:

Bị cáo Nguyễn Khoa Diệu H là người trực tiếp rủ rê bị cáo Đặng Văn Q thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Đặng Văn Q là người tiếp nhận lời rủ rê của bị cáo H, bị cáo Q trực tiếp thực hiện hành vi, đã trèo vào tường, đột nhập vào phòng ngủ của vợ chồng anh S sau đó mở tủ lấy trộm số tiền là 19.200.000 đồng. Do vậy vai trò của các bị cáo là ngang nhau.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:

Các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q đều có nhân thân tốt.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.

Quan điểm của Kiểm sát viên là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q là có căn cứ pháp luật.

[5] Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q đều có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, mới phạm tội lần đầu, bị cáo H đang nuôi con nhỏ (sinh năm 2023) nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q ra khỏi đời sống xã hội mà cần cho các bị cáo được hưởng án treo là cũng đủ tác dụng để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung, phù hợp với quy định Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Các bị cáo hiện không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với anh Phan Ngọc C không biết số tiền Q đưa để chuyển khoản vào tài khoản là do Q phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.

Đối với anh Nguyễn Công X1 không biết việc Q phạm tội mới có tiền trả nợ nên không xem xét xử lý.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q đã bồi thường đầy đủ số tiền 19.200.000 đồng cho vợ chồng anh Nguyễn Khoa S và chị Nguyễn Thị Thu T2; anh S và chị T2 đã viết đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7G màu đen, bên trong có gắn sim số: 0393646969 của bị cáo Đặng Văn Q không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo Q.

[8] Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:
    • - Bị cáo Nguyễn Khoa Diệu H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
    • - Bị cáo Đặng Văn Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

Giao bị cáo Nguyễn Khoa Diệu H cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Đặng Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 7G màu đen, bên trong có gắn sim số: 0393646969 cho bị cáo Đặng Văn Q.

Vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Khoa Diệu HĐặng Văn Q mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hằng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khoa Diệu H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/10/2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKNKTT: Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chỗ ở hiện tại: Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế Đặng Văn Q, tên gọi khác: Không, sinh ngày 16/5/2002 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger