Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-07-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sự.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Hà Thị Nga

Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 07 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 200/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 544/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 605/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích H; nơi cư trú: Số A Phụ A Tập thể X, Phường L, quận L, Hải Phòng, có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Dương Quốc N; nơi cư trú: Số A Phụ A Tập thể X, Phường L, quận L, Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh Dương Quốc N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận L, thành phố Hải Phòng. Thời gian vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh N sống buông thả, không có trách nhiệm với gia đình, không chịu làm ăn, mải chơi game, không chăm lo cho vợ con mặc dù chị H khuyên bảo anh N không cải sửa. Cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Dương Quốc N để cho chị sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là Dương Ngọc D, sinh ngày 16/02/2017. Khi ly hôn chị H xin được trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận.

- Về tài sản chung: Chị H trình bày chị và anh N không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Dương Quốc N mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa song anh N vẫn vắng mặt không có lý do và anh N không có văn bản trình bày quan điểm của mình về việc chị H xin ly hôn, con chung và tài sản chung.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Biên bản làm việc với bà Đoàn Thị H1 là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị Bích H, Biên bản làm việc với ông Lê Mạnh C - Tổ trưởng tổ dân phố số 1 phường L, quận L, thành phố Hải Phòng, Biên bản xác minh tại Công an phường L, quận L, thành phố Hải Phòng và Biên bản ghi ý kiến của con chung.

Tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích H đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn là anh Dương Quốc N đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do thể hiện bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng vi phạm quy định tại khoản 15 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, đại điện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn anh Dương Quốc N; về con chung: Giao con chung tên: Dương Ngọc D, sinh ngày 16/02/2017 cho chị Nguyễn Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hai bên tự thoả thuận nên không đề nghị Toà án giải quyết; về tài sản chung: Hai bên tự thoả thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết; về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình. Bị đơn là Dương Quốc N có nơi cư trú tại: Số A Phụ A Tập thể X, Phường L, quận L, Hải Phòng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của anh Dương Quốc N là bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Quốc N.

- Về nội dung:

[3] Quan hệ hôn nhân: Xét, chị Nguyễn Thị Bích H và anh Dương Quốc N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân L ngày 06/12/2016. Theo lời khai của chị Nguyễn Thị Bích H: Sau khi kết hôn chị H và anh N chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh N sống thiếu trách nhiệm với gia đình, không chịu làm ăn, mải chơi game, không chăm lo cho vợ con mặc dù chị H khuyên bảo anh N không cải sửa. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng chị H khẳng định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ với nhau được nữa xin được ly hôn anh N. Qua xác minh, bà Đoàn Thị H1 là mẹ đẻ của chị H cung cấp thì nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh N là do anh N không chịu làm ăn, kinh tế do một mình chị H gánh vác, chị H khuyên can thì anh N có lần còn đánh chị H, nay chị H có đơn xin ly hôn với anh N bà đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Ngoài ra tài liệu xác minh tại địa phương cung cấp việc mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh N địa phương không nắm rõ nhưng hiện nay được biết chị H và anh N đang sống ly thân, chị H đang là người trực tiếp nuôi con chung. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Dương Quốc N, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà nhưng anh N đều vắng mặt điều đó cho thấy anh N đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, không thiện chí hàn gắn những rạn nứt trong quan hệ vợ chồng. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh N đã kéo dài, trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho Chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn anh Dương Quốc N.

[4] Con chung: Chị Nguyễn Thị Bích H và anh Dương Quốc N có 01 con chung là Dương Ngọc D, sinh ngày 16/02/2017. Khi ly hôn, chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đến Toà án nhưng anh N không có ý kiến gì về việc con chung. Ngoài ra, theo đơn đề nghị của cháu Dương Ngọc D, cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của con chung, căn cứ theo Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung Dương Ngọc D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung tên Dương Ngọc D đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H trình bày để hai bên tự thoả thuận cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Tài sản chung: Chị H trình bày chị và anh N không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặt khác, anh N vắng mặt, không có lời trình bày tại Tòa án do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Án phí:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn anh Dương Quốc N.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Dương Ngọc D, sinh ngày 16/02/2017 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung tên Dương Ngọc D đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nay được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005747, ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Bích H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND phường Lam Sơn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bích H - Dương Quốc N Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger