|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 24 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thành Nhàn – Phó phòng nội vụ huyện Chợ Mới;
2. Ông Trần Thanh Sang – Cán bộ đoàn thanh niên huyện Chợ Mới.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 11/4/2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Thanh V, sinh năm 1991; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh K, sinh năm 1949 và bà Trần Thị L, sinh năm 1952; vợ Nguyễn Thị Bích Đ, sinh năm 1992 (đã ly hôn); sinh sống như vợ chồng với Nguyễn Thị X, sinh năm 1987 (không đăng ký kết hôn); con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/10/2023 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Phước D, sinh năm 2001; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phước T, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1981; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo, bị tạm giam từ ngày 16/11/2024 đến nay tại Trại tạm giam – Công an tỉnh A và có mặt tại phiên tòa.
3. Phan Nhật H, sinh năm 2002; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con bà Phan Thị H1 (mẹ ruột), sinh năm 1981 và bà Phan Thị Thùy T1 (mẹ nuôi); cha: không xác định; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/11/2023 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Nguyễn Chí T2, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
- Anh Huỳnh Chí V1, sinh ngày 20/11/2005; ông Huỳnh Thanh Trường H2, sinh năm 1991; cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt
- Anh Nguyễn Huy U, sinh ngày 12/12/2006 (vắng mặt); ông Nguyễn Huy B, sinh năm 1981 (có mặt); cùng địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang;
- Anh Phạm Minh T3, sinh ngày 23/8/2006; ông Phạm Văn N, sinh năm 1967; bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt
- Anh Trần Hùng C1, sinh ngày 03/7/2006; ông Trần Hùng V2, sinh năm 1977; bà Phạm Thị H3, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, Tỉnh An Giang; vắng mặt
- Anh Nguyễn Tây N1 (T4), sinh ngày 01/6/2006, bà Cao Thủy H4, sinh năm 1975, cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt
- Ông Phan Văn S, sinh năm 1957, địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
Người làm chứng:
- Bà Phan Thị H1, sinh năm 1981; vắng mặt
- Bà Phan Thị Thùy T1, sinh năm 1979; vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1987; vắng mặt
- Bà Huỳnh Thị Trúc L2, sinh năm 1970; vắng mặt
- Ông Phạm Minh K2, sinh ngày 7/4/2010; vắng mặt
- Ông Nguyễn Hoàng A (Út nhì), sinh năm 1976; vắng mặt
- Ông Lê Thanh K, sinh năm 1949; vắng mặt
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1952; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 15/6/2021, Lê Thanh V cùng nhóm bạn Huỳnh Chí V1 - Sinh ngày 20/11/2005, Nguyễn Huy U - Sinh ngày 12/12/2006, Trần Hùng C1 - Sinh ngày 03/7/2006, Nguyễn Tây N1 (Tây) - Sinh ngày 01/6/2006, Phạm Minh T3 - Sinh ngày 23/8/2006, Lê Phước D, Phan Nhật H, tổ chức uống bia tại khu vực đất trống cách nhà V khoảng 50m thuộc ấp L, xã L. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị X (sống chung như vợ chồng với V) điện thoại cho V biết Nguyễn Chí T2 hăm dọa X nếu không trả tiền nợ thì T2 xuống nhà quậy phá và nói Vũ nghiện ma túy, kêu X đừng quen V. Vì tức giận và biết T2 bán bánh mì kem tại bến đò Chợ Thủ thuộc ấp L, xã L, nên V rủ cả nhóm đi đánh T2, thì tất cả đồng ý, V1 kêu C1 vào nhà Nguyễn Hoàng A (cậu của V) lấy cây dao Thái Lan dài khoảng 30cm (cán nhựa màu đen dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm) đưa V1 mang theo và D mang theo cây dao bấm dài khoảng 10cm (cán bằng gỗ dài khoảng 04cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 06cm). Cả nhóm điều khiển xe mô tô đến bến đò Chợ T5 vào quán uống nước giải khát, khi này Do kêu V1 đổi dao thì V1 đồng ý, Do đưa cây dao bấm cho V1, còn V1 đưa cây dao Thái Lan cho Do nhưng U chụp lấy cây dao Thái Lan cất trong túi quần. Riêng, V điện thoại cho X biết đã đến để tìm T2, thì X đến khuyên ngăn V và kêu V đi về, nhưng V không nghe.
Khi đò cập bến, V thấy T2 đang ngồi bán bánh mì kem dưới đò, liền kêu cả nhóm xuống đò đánh T2, thì X tiếp tục khuyên ngăn kêu V đi về nhưng V và D đi đến cự cãi, dùng tay đánh T2; T2 lấy cây dao Thái Lan dùng để cắt bánh mì cầm trên tay, thì V1 cầm dao bấm đâm vào hông bên trái của T2 01 cái, N1 dùng chân, C1 lấy ghế mũ nhựa đánh, đạp T2; X kêu T2 bỏ chạy lên bờ thì U cầm dao Thái Lan rượt theo chém T2 nhưng không trúng, Do kêu U ném cây dao xuống sông rồi cả nhóm đi về, trên đường về Vỹ làm rớt mất cây dao bấm. T2 được đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu, điều trị thương tích, sau đó ra viện.
* Kết luận giám định pháp y về thương tích số 376/21/TgT, ngày 15/9/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh A, đối với Nguyễn Chí T2:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Sẹo hạ sườn trái đường nách sau, kích thước (2x0,2)cm, bờ sắc gọn. Thấu ngực - bụng:
- + Tràn máu màng phổi trái, đã phẫu thuật dẫn lưu.
- + Vết thương lách, điều trị bảo tổn.
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 17%.
- Kết luận khác: Thương tích do vật sắc nhọn gây nên.
* Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 323/C09B ngày 31/12/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tại thời điểm giám định (tháng 12/2021) Trần Hùng C1 có độ tuổi từ 15 năm 04 tháng đến 15 năm 10 tháng.
* Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 324/C09B ngày 31/12/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tại thời điểm giám định (tháng 12/2021) Huỳnh Chí V1 có độ tuổi từ 15 năm 10 tháng đến 16 năm 04 tháng.
* Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 325/C09B ngày 31/12/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tại thời điểm giám định (tháng 12/2021) Nguyễn Huy U có độ tuổi từ 16 năm đến 16 năm 06 tháng.
* Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 574/KLGĐĐT-TTРҮСТ ngày 19/9/2023 của Trung tâm pháp y thành phố C: Tại thời điểm giám định (ngày 14/9/2023) Lê Thanh V có độ tuổi từ 25 năm trở lên.
* Vật chứng thu giữ: Xe mô tô biển số 67L2-494.91 do Phan Thị Thùy T1 (mẹ nuôi của H) giao nộp, Huỳnh Văn Trường H5 (chú của V1) giao nộp 15.000.000 đồng, Nguyễn Huy B (cha ruột của U) giao nộp 3.000.000 đồng, Cao Thủy H4 (mẹ ruột của N1) giao nộp 3.000.000 đồng, Phạm Minh N2 (cha ruột của T3) giao nộp 3.000.000 đồng, Phạm Thị H3 (mẹ ruột của C1) giao nộp 3.000.000 đồng, để bồi thường cho Nguyễn Chí T2.
Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSCM ngày 10 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Lê Thanh V, Lê Phước D, Phan Nhật H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Thanh V, Lê Phước D, Phan Nhật H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Nguyễn Chí T2; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Mỹ C, Huỳnh Chí V1, Huỳnh Thanh Trường H2, Nguyễn Huy U, Nguyễn Huy B, Phạm Minh T3, Phạm Văn N, Nguyễn Thị L1, Trần Hùng C1, Phạm Thị H3, Nguyễn Tây N1 (T), Cao Thủy H4, Phan Văn S trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh V từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Phước D từ 02 năm năm 06 tháng đến 03 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Nhật H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Các bị cáo V, H, Do không có ý kiến tranh luận. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng mặc dù đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 15/6/2021, trong lúc uống rượu thì V được Nguyễn Thị X (vợ của V) điện thoại cho biết Nguyễn Chí T2 hăm dọa X để đòi tiền và nói Vũ nghiện ma túy, kêu X đừng quen V. Do tức giận nên V rủ Huỳnh Chí V1 - Sinh ngày 20/11/2005, Nguyễn Huy U - Sinh ngày 12/12/2006, Trần Hùng C1 - Sinh ngày 03/7/2006, Nguyễn Tây N1 (Tây) - Sinh ngày 01/6/2006, Phạm Minh T3 - Sinh ngày 23/8/2006, Lê Phước D, Phan Nhật H đi đánh T2. Tại bến đò Chợ Thủ thuộc ấp L, xã L; khi đò cập bến, thấy T2 đang ngồi bán bánh mì kem dưới đò, thì cả nhóm xuống đò đánh và dùng dao bấm đâm T2 gây thương tích với tỷ lệ thương tích 17%,. Hành vi nêu trên của các bị cáo bị cáo Lê Thanh V, Lê Phước D, Phan Nhật H, đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo không phải chiu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo V, Do, H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo H được hưởng thêm tình tiết quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo V1 là người rủ rê các bị cáo D, H thực hiện hành vi phạm tội nên bị có là người giữ vai trò chính và mức hình phạt bị cáo V1 phải cao hơn các bị cáo khác. Đối với bị cáo Do khi được V1 rủ rê thì tích cực hưởng ứng và chuẩn bị hung khí là dao bấm và tham gia đánh bị hại điều này đã thể hiện tính đồng phạm đến cùng của bị cáo. Riêng bị cáo H tuy không tham gia đánh bị hại nhưng được V1 rủ rê thì đồng ý và đứng ngoài giúp sức tinh thần cho các bị cáo còn lại đánh bị hại đã thể hiện tính đồng phạm của bị cáo.
Xét tính chất của vụ án, đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ và tính chất hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ mà tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa giữa các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, số tiền các bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Mai Chí T6 là 60.000.000 đồng. Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Quá trình điều tra thì các ông bà Huỳnh Văn Trường H5 (chú của V1), Nguyễn Huy B (cha ruột của U), Cao Thủy H4 (mẹ ruột của N1), Phạm Minh N2 (cha ruột của T3), Phạm Thị H3 (mẹ ruột của C1) đã nộp tổng số tiền 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng) khắc phục hậu quả nên số tiền này bị hại anh T6 sẽ được nhận. Do đó, cần buộc các bị cáo Vỹ, Do, H và người có quyền lợi nghĩa quan: Huỳnh Chí V1, Huỳnh Trường H5 (chú của V1); Nguyễn Huy U, Nguyễn Huy B (cha ruột của U); Phạm Minh T3, Phạm Văn N, Nguyễn Thị L1 (cha mẹ ruột của T3); Trần Hùng C1, Trần Hùng V2, Phạm Thị H3 (cha, mẹ ruột của C1); Nguyễn Tây N1, Cao Thủy H4 (mẹ ruột của N1) liên đới bồi thường thêm cho anh T6 số tiền là 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng).
[6] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển số 67L2 – 494.91 là của Phan Nhật H dùng vào việc phạm tội nên cần tích thu phát mãi nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Vấn đề khác: Đối với Huỳnh Chí V1, Nguyễn Tây N1, Nguyễn Huy U, Trần Hùng C1, Phạm Minh T3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan điều tra không khởi tố là có căn cứ. Nguyễn Thị X không bàn bạc, không tham gia đánh T6, nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo: Lê Thanh V, Lê Phước D, Phan Nhật H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thanh V 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ 16/10/2023.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Phước D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ 16/11/2023.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Nhật H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ 20/11/2023.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584, 585, 591; Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự:
Bị hại Trần Chí T7 được nhận số tiền 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng). (Theo biên lai thu tiền số 0006589 ngày 24/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới)
Buộc các bị cáo Lê Thanh V, Lê Phước D, Phan Nhật H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Chí V1, Huỳnh Trường H5; Nguyễn Huy U, Nguyễn Huy B; Phạm Minh T3, Phạm Văn N, Nguyễn Thị L1; Trần Hùng C1, Trần Hùng V2, Phạm Thị H3; Nguyễn Tây N1, Cao Thủy H4 liên đới bồi thường thêm tiền thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Nguyễn Chí T2 số tiền là 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Tịch thu phát mãi nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67L2 – 494.91. (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2024).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo V, Do, H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự trong vụ án hình sự: Các bị cáo Lê Thanh V, Lê Phước D, Phan Nhật H cùng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Chí V1, Huỳnh Trường H5; Nguyễn Huy U, Nguyễn Huy B; Phạm Minh T3, Phạm Văn N, Nguyễn Thị L1; Trần Hùng C1, Trần Hùng V2, Phạm Thị H3; Nguyễn Tây N1, Cao Thủy H4 liên đới chịu 1.650.000 đồng (một triệu sáu trăm năm chục nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Phương Quyền |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Lâm Thanh V, Nguyễn Phước D và Nguyễn Nhựt H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS
