|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày 24-04 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Chiến và Bà Nguyễn Thị Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Lê - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 09/4/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Văn M; tên gọi khác: không; sinh ngày: 13/4/1962, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn H (đã chết) và bà: Hoàng Thị H1 (đã chết); vợ Nguyễn Thị Y (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 1985; tiền án: ngày 13/12/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 25/02/2010 chấp hành xong hình phạt tù, hiện chưa thi hành xong phần hình phạt bổ sung trong bản án; tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Ngày 28/11/1979, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Cẩm Phả xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công dân”, ngày 14/9/1981 chấp hành xong bản án;
- + Ngày 12/6/1983, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 9 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản riêng của công dân bị chiếm đoạt”, ngày 21/11/1983 chấp hành xong bản án;
- + Ngày 20/02/1985, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Cẩm Phả xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, ngày 04/3/1987 chấp hành xong bản án;
- + Ngày 20/8/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong bản án;
- + Ngày 15/12/2017, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 20/6/2020 chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 20/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: bà Phạm Thị T, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 20/12/2023, tại tổ A, khu N, phường C, thành phố C, Đinh Văn M đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine cho bà Phạm Thị T để bà T sử dụng, ngoài ra M còn tàng trữ 03 gói giấy bên trong có chứa ma túy loại Heroine có tổng khối lượng 0,09 gam với mục đích để bán kiếm lời thì bị Công an khám xét khẩn cấp bắt và thu giữ vật chứng khác gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng có lắp sim, 01 cân tiểu ly, 05 vỏ túi nilon. Công an thu giữ của bà T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 mảnh giấy màu tím trắng dính chất bộ màu trắng.
Tại các bản Kết luận giám định số: 1809/KL-KTHS ngày 25/12/2023 và số 1833/ KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 02 gói giấy thu giữ tại người của Đinh Văn M (M1, M2) và 01 gói giấy thu giữ tại nhà của M (M3) là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng là 0,09 gam. Tìm thấy chất ma túy Heroine trên 01 mảnh giấy thu giữ của bà Phạm Thị T, dạng vết, không xác định được khối lượng. Tìm thấy M1 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine trong mẫu nước tiểu của Phạm Thị T.
Bản Cáo trạng số 32/CT-VKSCP ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đinh Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn M khai nhận về hành vi phạm tội cụ thể: khoảng 06 giờ 50 phút ngày 20/12/2023 bị cáo đang ở nhà thì bà T gọi điện thoại hỏi mua 400.000 đồng ma túy loại Heroine, do có sẵn ma túy trong người nên bị cáo đồng ý bán và bảo bà T đến nhà để giao dịch, khoảng 10 phút sau thì bà T đến và đi vào trong sân đến trước cửa nhà bị cáo, tại đây bị cáo đã nhận 400.000 đồng và đưa cho bà T 01 gói ma túy Heroine rồi bà T đi về. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày thì bị cáo thấy có lực lượng Công an đến khám xét khẩn cấp, Công an đã thu giữ trên kệ để đồ trong phòng bếp 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng; thu giữ trên mặt bàn kệ ti vi trong phòng khách 01 cân tiểu ly điện tử màu xanh và 05 vỏ túi nilon, đó là những vật chứng bị cáo sử dụng để mua bán ma túy; quá trình bắt giữ khẩn cấp bị cáo đã giao nộp 02 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu vàng và số tiền 400.000 đồng bị cáo có được do bán ma túy cho bà T, bị cáo sử dụng điện thoại bị thu giữ vào việc trao đổi mua bán ma túy với bà T. Nguồn gốc số ma túy để bán cho bà T và bị Công an thu giữ là do bị cáo mua của một người đàn ông tên H2 khoảng 40 tuổi tại khu vực đường N thuộc phường C, thành phố C vào tối ngày 19/12/2023 với giá 1.000.000 đồng, sau đó mang về chia ra làm 04 gói giấy với mục đích ai hỏi mua thì bán để kiếm lời. Bị cáo có tiền án và nhân thân xấu đúng như phần lý lịch đã nêu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình, hiện nay bị cáo tuổi đã cao lại mắc bệnh phổi mãn tính, sức khoẻ yếu thường xuyên đau ốm nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bà Phạm Thị T là người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: bà bắt đầu sử dụng ma túy Heroine từ cách đây 02 năm, vào khoảng 06 giờ 50 phút ngày 20/12/2023 do có nhu cầu sử dụng ma túy và biết bị cáo M bán nên bà đã sử dụng điện thoại để hỏi mua 400.000 đồng ma túy Heroine, hai bên thỏa thuận đến nhà của bị cáo M để giao dịch nên bà đã đi đến nơi hẹn, tại cửa chính của nhà bị cáo bà đã đưa cho bị cáo M số tiền 400.000 đồng gồm 06 tờ mệnh giá 50.000 đồng và 05 tờ mệnh giá 20.000 đồng. Bị cáo M cầm tiền rồi đưa lại cho bà 0 gói giấy màu tím trắng bên trong chứa Heroine. Bà T cầm gói ma túy đi đến bãi đất trống ở khu vực sân vận động C sử dụng bằng cách hít, bà cầm lại mảnh giấy vẫn còn dính một chút ma túy để sử dụng cho lần sau rồi đi bộ về đến khu vực tổ B, khu G, phường C, thành phố C thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính. Bà tự nguyện giao nộp 1 mảnh giấy còn dính ma túy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, sau đó bà được đưa về trụ sở Công an để làm việc, Công an đã thu giữ vật chứng theo đúng quy định.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đinh Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt Đinh Văn M từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của bị cáo M; tịch thu tiêu hủy: 05 vỏ túi nilon, 01 cân tiểu ly, 01 chiếc sim điện thoại thu giữ của bị cáo M.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn M, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo Đinh Văn M khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu như: Biên bản khám xét lập hồi 09 giờ 45 phút ngày 20/12/2023; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 20/12/2023 tại tổ A, khu N, phường C, thành phố C, Đinh Văn M đã có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy, loại Heroine cho bà Phạm Thị T với giá 400.000 đồng để bà T sử dụng và còn có hành vi tàng trữ 03 gói giấy bên trong chứa ma túy Heroine có tổng khối lượng 0,09 gam nhằm mục đích để bán kiếm lời thì bị Công an bắt giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, do vậy cần chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà còn làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là hiểm hoạ đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị đưa ra xét xử về các tội đúng như phần lý lịch của bị cáo đã nêu nhưng vẫn không từ bỏ được ma tuý và không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhằm mục đích kiếm lời, chứng tỏ bị cáo thiếu ý thức rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt. Ngoài ra, theo bản án hình sự sơ thẩm số 400/HS2 ngày 13/12/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt bị cáo M 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 25/02/2010 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đến nay chưa thi hành xong phần hình phạt bổ sung trong bản án nên bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử có xem xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội đã gây ra, hiện bị cáo đã trên 60 tuổi, sức khỏe yếu do mắc bệnh phổi mãn tính nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn so với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà nhưng dù xem xét đến đâu cũng cần bắt phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: đối với số ma tuý thu giữ của bị cáo M, quá trình giám định đã hết nên không hoàn lại mẫu vật. Đối với số tiền 400.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Công an còn thu giữ của bị cáo M 05 vỏ túi nilon, 01 cân tiểu ly điện tử bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và 01 chiếc sim điện thoại thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên cần nên cần tịch thu tiêu huỷ. Chiếc điện thoại N cùng với 01 chiếc sim thu giữ của bà Phạm Thị T Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả đã trả lại cho bà T.
[7] Đối với người đàn ông tên H2 theo bị cáo khai bán ma tuý cho bị cáo, do không biết lý lịch địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ. Đối với bà Phạm Thị T do có hành vi sử dụng ma túy nên Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt hành chính.
[8] Về án phí: bị cáo Đinh Văn M là người cao tuổi, tại phiên tòa bị cáo M đề nghị được miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Đinh Văn M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Đinh Văn M 27 (hai bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023;
Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng, điện thoại đã qua sử dụng, đã cũ thu giữ của bị cáo Đinh Văn M.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số 8401, 1807, 2403, 1741; 01 cân tiểu ly điện tử vỏ màu xanh đã qua sử dụng; 05 vỏ túi nilon kích thước (7,5x4) bên trong không chứa gì, thu giữ của bị cáo Đinh Văn M.
(Tiền vật chứng thu giữ theo Biên bản giao nhận tài sản số 10/2023/BBBG-CQCSÐTCATPCP ngày 23/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả và Kho bạc nhà nước thành phố Cẩm Phả. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 74/BB -THA ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Văn M.
Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Quýnh |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn M phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
