Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23 tháng 8 năm 2024

V/v tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Chín
  2. Bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Phượng- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 527/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1963; (Có mặt)

Bị đơn: Ông Cao Bình K, sinh năm 1963 (Vắng mặt)

Đều có địa chỉ: Khu C, thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Cao Văn K1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1969 (Vắng mặt)
  2. Ông Đinh Văn T, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
  3. Đều có địa chỉ: Khu C thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

  4. Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
  5. Địa chỉ: Số A, đại lộ H, phường T, T, tỉnh Phú Thọ.

    Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc S1 - Chủ tịch UBND thành phố V.

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn C - Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường thành phố V (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày: Bà và ông Cao Bình K kết hôn với nhau năm 1984, đến năm 2012 bà và ông K ly hôn, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã ra quyết định công nhận thuận tình ly số 316/2012/QÐST - HNGĐ ngày 25/9/2012. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà và ông Cao Bình K. Về con chung: Các cháu đã trưởng thành, có công ăn việc làm nên không đề nghị Toà án giải quyết. Về tài sản chung không yêu cầu toà án giải quyết. Từ khi ly hôn xong bà và ông K không tự thỏa thuận phân chia được tài sản. Nay bà đề nghị phân chia tài sản chung của bà và ông K gồm có tài sản chung như sau: 01 mảnh đất ở khu C thôn N xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ diện tích 447m² (trong đó có 230m² đất ở; 217m² đất vườn) thửa đất số 567 tờ bản đồ số 40 đã được cấp giấy CNQSDĐ số AG 578312 ngày 10/4/2007 tên người sử dụng đất ông Cao Bình K và bà Phạm Thị D, trên đất có 01 nhà lớn, 01 bếp đều xây cấp bốn và các công trình xây dựng trên đất.

Về nguồn gốc thửa đất: Năm 1990, bà D ông K mua một mảnh đất của ông bà S2 Lịch thửa đất 567 tờ bản đồ số 40, diện tích 592m2 trên đất có móng nhà và tường rào bằng tre. Sau khi mua xong, ông K bà D xây nhà trên móng nhà cấp bốn lợp Proximang. Năm 1995, gia đình bà D ông K xây bếp khi đó ranh giới giữa hai nhà là hàng rào tre. Khoảng năm 1996-1997 ông Đinh Văn T xây tường rào giáp bếp nhà bà D ông K. Năm 2004, bà D ông K bán bớt một phần đất cho ông Cao Xuân K3, ông K3 xây tường rào giáp đất nhà bà D. Đến năm 2007, được cấp giấy CNQSD đất thửa đất 567, tờ bản đồ số 40, diện tích 447m2 trong đó có 230m2 đất ở và 217m2 đất vườn, giấy chứng nhận QSD đất đứng tên ông Cao Bình K và bà Phạm Thị D. Sau khi ly hôn, ông K ở trên thửa đất 567, còn bà D vẫn thuê nhà để ở. Sau khi ly hôn năm 2012 ông K có làm mái tôn và ốp tường nhà.

Nay bà D đề nghị Toà án chia cho bà D được hưởng ½ diện tích đất và nhà. Bà xin được sử dụng phần đất thẳng cổng vào và các công trình xây dựng trên đất, nếu phần của bà được chia ít hơn của ông K, bà không đề nghị ông K phải thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà.

Công nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn ông Cao Bình K trình bày: Vợ chồng ông bà có tài sản chung là nhà và đất ở khu C, thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi ly hôn năm 2012, ông có cải tạo sửa chữa nhà lớn và bếp, nhà lớn đóng trần, ốp tường, đóng lại hai cửa chính cửa sổ; Nhà bếp đóng lại cửa chính, cửa sổ, cửa phòng tắm, lát nền nhà bếp, ốp tường đóng trần. Lát lại sân, lợp mái tôn, ốp trụ cổng, xây bờ rào phía trước nhà. Sửa lại nhà chính, nhà bếp.

Nay bà D yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn là nhà và đất quan điểm ông K không đồng ý vì giấy chứng nhận QSD đất đứng tên riêng một mình ông K, ngoài ra ông không có tài liệu chứng cứ gì khác.

Về công nợ: Ông, bà không nợ của ai nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Văn K1 và bà Nguyễn Thị S trình bày: Gia đình ông bà Dung K4 có bán cho vợ chồng ông 01 mảnh đất ở khu 3 thôn N, xã T, thành phố V, năm 2006 đã được UBND thành phố V cấp giấy CNQSD đất số AG 696986, thửa đất số 567-1 tờ bản đồ số 40, diện tích 145m2, địa chỉ tại khu C, thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, đứng tên chủ sử dụng đất là ông Cao Văn K1 và bà Nguyễn Thị S. Sau khi mua đất của vợ chồng ông bà Dung K4 thì vợ chồng xây dựng tường rào xung quanh để xác định ranh giới. Từ lúc mua đến nay hai gia đình vẫn sử dụng ổn định không có tranh chấp gì. Ông K1 bà S đề nghị Toà án không báo gọi và xét xử vắng mặt vợ chồng ông bà.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T1 và ông Đinh Văn T thống nhất trình bày: Ông T1 được cha để lại cho mảnh đất ở khu C thôn N, xã T Thành phố V, đến năm 1996 ông T1 được nhà nước cấp giấy CNQSDĐ số A 307538 ngày 10/7/1996 đứng tên ông Đinh Văn T1 thửa đất số 267, tờ bản đồ 21, diện tích đất 636m2 nay là thửa 566 tờ bản đồ 40 diện tích là 695. Ông T đã cho ông T (là con trai ông T1) phần đất giáp nhà ông bà Dung K4, ông T đã xây dựng tường rào và ranh giới từ lâu khoảng hơn 20 năm nay. Đến năm 2020 ông T xây ngôi nhà hai tầng trên thửa đất trên. Gia đình ông và gia đình ông K4 sử dụng ổn định không có tranh chấp gì. Theo ốp bản đồ thì ông bà Dung K4 có xây lấn sang đất gia đình ông 14m2, ông nhất trí để gia đình ông K4 sử dụng. Gia đình ông không liên quan gì đến thửa đất nhà ông bà D. Đề nghị toà án không báo gọi và xét xử vắng mặt ông.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố V Đại diện theo uỷ quyền ông Phạm Văn C - Phó phòng tài nguyên và môi trường trình bày:

Tại sổ mục kê và bản đồ địa chính năm 1996 tên chủ sử dụng đất hộ ông Cao Bình K tờ bản đồ số 40, thửa đất số 567, diện tích 592m2 đất. Năm 2005, ông K bà D đã chuyển nhượng 145m2 đất cho vợ chồng ông Cao Xuân K3, bà Nguyễn Thị S. Năm 2006, ông K3 và bà S đã được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận QSD đất số AG 696986 ngày 19/9/2006 tại thửa đất số 567-1 tờ bản đồ số 40 với diện tích 145m2 (trong đó 70m2 đất ở và 75m2 đất vườn) tên chủ sử dụng đất ông Cao Xuân K3, bà Nguyễn Thị S. Phần đất còn lại ông K bà D đã được cấp giấy CNQSD đất số AG 578312 ngày 10/4/2007 chủ sử dụng đất là ông Cao Bình K, bà Phạm Thị D tại thửa đất số 567, tờ bản đồ số 40, diện tích 447m2 trong đó đất ở 230m2, đất vườn 217m2.

Về diện tích đất hiện nay hộ ông Cao Bình K đang sử dụng theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 567 tờ bản đồ số 40 diện tích 582m2, diện tích theo giấy Chứng nhận QSD đất là 447m2, diện tích đất tăng lên là 135m2 (582m2 - 447m2 = 135m2). Đối chiếu với bản đồ địa chính năm 1996 và thực tế hộ ông K sử dụng thì thấy: Hộ ông K sử dụng lấn ra diện tích đất ao do UBND xã quản lý (phần đất phía sau diện tích là 131,7m2, lấn ra diện tích đất đường giao thông (phần phía trước diện tích 12,5m2), lấn sang thửa 566 là 14m2.

Phần diện tích đất ông K bán cho ông K3 đã xây tường bao xung quanh hai bên gia đình sử dụng ổn định từ lâu và không có tranh chấp gì. Hai bên gia đình đều đã được cấp giấy CNQSD đất.

Phần diện tích đất hộ ông K sử dụng lấn sang thửa 566 là 14m2 của gia đình ông Đinh Văn T, ông T đã xây dựng tường rào sử dụng ổn định từ lâu và không có tranh chấp gì, ông T đồng ý cho hộ ông K được quyền sử dụng phần đất này. Đối với phần diện tích đất này gia đình ông K được quyền sử dụng để cấp giấy chứng nhận QSD đất khi chia tài sản chung.

Phần diện tích đất hộ ông K sử dụng lấn ra thửa 562 (đất ao) do UBND xã quản lý là 131,7m2. Đối với phần diện tích đất này không có trong giấy CNQSDĐ của ông K và bà D, khi nào nhà nước lấy phần diện tích đất này thì ông K, bà D phải trả lại.

Phần diện tích ông K, bà D sử dụng lấn ra đường giao thông là 12,5m2, gia đình ông K đã xây dựng cổng, tường rào, 1 phần nhà bếp trên diện tích đất này. Đối với phần diện tích đất này gia đình ông K không đủ điều kiện để cấp giấy CNQSD đất, còn các công trình xây dựng trên đất gia đình ông K được quyền sử dụng khi nào nhà nước thu hồi để làm đường thì buộc gia đình ông K bà D phải tháo dỡ.

Diện tích đất hộ ông K còn lại để chia và cấp GCNQSD đất là 582m2 -131,7m2 -12,5m2 = 437,8m2. Thiếu so với giấy CNQSD đất được cấp là 447m2 - 437,8m2 = 9,2m2. Nguyên nhân là do trước kia đo bằng phương pháp thủ công (đo bằng dây) toạ độ không chính xác nay đo bằng máy nên diện tích đất thiếu là sai số do đo đạc.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị D về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Xác nhận bà Phạm Thị D và ông Cao Bình K có tài sản chung là thửa đất số 567 tờ bản đồ số 40 tại thôn N, xã T, thành phố V do UBND thành phố V cấp số AG 5831 ngày 10/4/2007 diện tích theo giấy CNQSD đất 447m2, diện tích thực tế xác định để chia là 437,8m2 và các tài sản trên đất.

Giao cho bà Phạm Thị D được quyền sử dụng 1 phần thửa đất 567 tờ bản đồ số 40 diện tích diện tích là 210m2 theo chỉ giới là 2,3,4,5,6,7,C,B,2 (trong đó có 115m2 đất ở và 95m2 đất vườn) trị giá là: 209.949.500đ và được sở hữu các tài sản trên đất gồm: Một phần nhà cấp bốn diện tích là 18,5m2 trị giá là 4.113.000đ, nhà kho có diện tích là 25,9 m2 (giáp với nhà lớn), một Phần mái tôn sau nhà có diện tích 11,3 m2; một phần mái tôn trước nhà có diện tích là 38,8m2; một phần sân gạch và các tài sản khác trên diện tích đất được giao (đã hết khấu hao không định giá). Tổng trị giá tài sản bà D được giao là 214.062.500đ. Bà D được quyền sử dụng cổng sắt có trụ cao 2m, tường dào xây cao 1,7m theo chỉ giới 7,8,9,D (đã hết khấu hao không định giá) trên phần đất đường đi, khi nào nhà nước yêu cầu thì bà D phải tháo dỡ. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)

Giao cho ông Cao Bình K được quyền sử dụng 1 phần thửa đất 567 tờ bản đồ số 40 diện tích diện tích là 227,8 m2 theo chỉ giới là A,B,C,12,13,14,15,16,17,18,19,A (trong đó có 115m2 đất ở và 112,8m2 đất vườn) trị giá là: 212.656.880đ và được sở hữu các tài sản trên đất gồm: Một phần nhà cấp bốn diện tích là 40,8m2 trị giá là 9.072.000đ, nhà bếp có trị giá là 8.005.000đ (giáp với nhà lớn) và các tài sản khác trên diện tích đất được giao (đã hết khấu hao không định giá). Tổng trị giá tài sản là 229.733.880đ.

Phần tài sản bà D được giao tổng trị giá là 214.062.500đ ít hơn phần tài sản ông K được giao tổng trị giá là 229.733.880đ, nhưng bà D không yêu cầu ông K phải thanh toán tiền chênh lệch tài sản, nên ông K không phải thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà D.

Bà Phạm Thị D và ông Cao Bình K có quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị D tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phạm Thị D. Ông Cao Bình K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.486.694 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Bà Phạm Thị D yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là Cao Bình K có hộ khẩu thường trú tại khu C, thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, do vậy Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã báo gọi nhiều lần nhưng ông K không đến Tòa để giải quyết vụ án, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, ông K vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K.

[2] Về nội dung:

[2.1] Bà Phạm Thị D và và ông Cao Bình K thuận tình ly hôn năm 2013, Tại quyết định công nhận thuận tình ly số 316/2012/QÐST - HNGĐ ngày 25/9/2012, về tài sản chung bà D và ông K tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên sau khi ly hôn hai bên không thỏa thuận được về tài sản chung nên bà D khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Theo bà Phạm Thị D khai tài sản chung của bà và ông K gồm 01 mảnh đất ở khu C thôn N xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ diện tích 447m² (trong đó có 230m² đất ở; 217m² đất vườn) thửa đất số 567 tờ bản đồ số 40 đã được cấp giấy CNQSDĐ số AG 578312 ngày 10/4/2007 tên người sử dụng đất ông Cao Bình K và bà Phạm Thị D, trên đất có 01 nhà lớn, 01 bếp đều xây cấp bốn và các công trình xây dựng trên đất Nay bà D được hưởng ½ diện tích đất và nhà. Bà xin được sử dụng phần đất thẳng cổng vào và các công trình xây dựng trên đất, nếu phần nhà và đất của bà được chia ít hơn phần của ông K, bà cũng không đề nghị ông K phải thanh toán chênh lệch tài sản cho bà.

Theo ông Cao Bình K khai tài sản chung của ông bà là nhà và đất ở khu C, thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi ly hôn năm 2012, ông có cải tạo sửa chữa nhà lớn và bếp, nhà lớn đóng trần, ốp tường, đóng lại hai cửa chính cửa sổ; Nhà bếp đóng lại cửa chính, cửa sổ, cửa phòng tắm, lát nền nhà bếp, ốp tường đóng trần. Lát lại sân, lợp mái tôn, ốp trụ cổng, xây bờ rào phía trước nhà. Sửa lại nhà chính, nhà bếp. Nay bà D yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn là nhà và đất ông K không đồng ý vì giấy chứng nhận QSD đất đứng tên riêng một mình ông K.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương và các tài liệu bà D cung cấp là GCNQSDĐ số AG 578312 ngày 10/4/2007 tên người sử dụng đất ông Cao Bình K và bà Phạm Thị D diện tích 447m² (trong đó có 230m² đất ở; 217m² đất vườn) thửa đất số 567 tờ bản đồ số 40, ông K cũng thừa nhận tài sản chung của ông và bà D có nhà và đất ở khu 3 thôn nỗ lực xã thụy vân T, ông K không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên riêng một mình ông K. Do vậy phải khẳng định rằng bà D và K có tài sản chung là thửa đất số 567 tờ bản đồ số 40 diện tích 447m² (trong đó có 230m² đất ở; 217m²) ở khu 3 thôn nỗ lực xã thụy vân thành phố Việt trì và tài sản trên đất là 01 nhà lớn, 01 bếp đều xây cấp và các công trình xây dựng trên đất.

Theo kết quả đo đạc thì diện tích đất thực tế hiện nay hộ ông K đang sử dụng là 582m2. Ốp theo bản đồ địa chính năm 1996 thì thấy hộ ông K sử dụng lấn ra diện tích đất ao (thửa 562) do UBND xã quản lý là 131,7m2, lấn ra diện tích đất đường giao thông là12,5m2, lấn sang thửa 566 của gia đình ông T1 là 14m2 thấy rằng:

  • Đối với phần diện tích đất hộ ông K lấn ra thửa 562 (đất ao), bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết phần đất này và phần diện tích đất này không có trong giấy CNQSDĐ của bà D và ông K, do vậy Tòa án không đặt ra xem xét để giải quyết.
  • Đối với phần diện tích đất lấn ra đường giao thông, ông K, bà D đã xây dụng các công trình trên diện tích đất này, ông K và bà D được quyền sử dụng các công trình trên diện tích đất, khi nào nhà nước lấy làm đường thì ông K bà D phải tự dỡ bỏ các công trình xây dựng trên đất.
  • Đối với phần diện đất lấn sang thửa 566 của gia đình ông T1, gia đình ông thực đã xây tường rào từ lâu và hai bên đã sử dụng ổn định không có tranh chấp gì, gia đình ông T1 và anh T nhất trí để cho gia đình ông K sử dụng diện tích đất thực tế như hiện nay. Theo lời khai của UBND thành phố V trước kia đo đạc đo bằng thước dây tọa độ không chính xác, nay đo bằng máy nên có sự khác nhau, do vậy phần diện tích đất này gia đình ông K được quyền sử dụng.

Từ những phân tích trên thì diện tích đất ông K, bà D còn lại để chia là 582m2 -131,7m2 -12,5m2 = 437,8m2. Thiếu so với giấy CNQSD đất được cấp là 447m2 – 438,7m2 = 9,2m2. Nguyên nhân là do trước kia đo bằng phương pháp thủ công (đo bằng dây) toạ độ không chính xác nay đo bằng máy nên diện tích đất thiếu là sai số do đo đạc. Bà D nhất trí với diện tích đất trên để chia. Phần diện tích đất thiếu xác định là đất vườn.

- Theo Hội đồng định giá xác định thửa có giá là: Đất ở có giá 1.700.000đ/m2; Đất vườn có giá 152.100đ/m2. Tài sản trên đất: 01 ngôi nhà cấp IV 01 tầng xây dựng năm 1990 tổng diện tích 85,2m2, kết cấu nhà sử dụng khung bê tông cốt thép chịu lực, mái lợp tôn, trần ốp nhựa chống nóng. Trong nhà có 03 phòng ngủ, 02 công trình phụ, 01 bếp, cửa thông phòng là cửa kính nhôm hệ, cửa sổ là cửa gỗ hai cánh. Giá trị định giá là 21.190.000đ. (Trong đó: Phần nhà có diện tích 18,5m2 trị giá là 4.113.000đ; phần nhà có diện tích 40,8m2 trị giá là 9.072.000đ, phần bếp có trị giá 8.005.000đ). Phía sau nhà có 01 chuồng gia súc đã xuống cấp diện tích 31m2, kết cấu xây gạch chỉ 110mm. Đã hết khấu hao. Vật kiến trúc: 02 phần mái tôn khung thép trước và sau có tổng diện tích là 101m2. Phần sân lát gạch đỏ lát năm 1991. Cửa khung sắt hộp, trụ cổng 200x200mm cao 2m, phần tường xây gạch 110mm, cao 1,7m dài 10m, phần nhà kho giáp nhà chính có diện tích 25,9m2 đều đã hết khấu hao không định giá.

Xét thấy yêu cầu của bà D đề nghị được chia đôi nhà và đất thấy rằng: Thửa đất số 567 tờ bản đồ số 40 của ông K và bà D có đủ điều kiện để tách thửa theo quy định của luật đất đai nên cần chấp nhận.

Do vậy cần giao cho bà D được quyền sử dụng 1 phần thửa đất 567 tờ bản đồ số 40 diện tích diện tích là 210m2 theo chỉ giới là 2,3,4,5,6,7,C,B,2 (trong đó có 115m2 đất ở và 95m2 đất vườn) trị giá là: 209.949.500đ và được sở hữu các tài sản trên đất gồm: Một phần nhà cấp bốn diện tích là 18,5m2 trị giá là 4.113.000đ và các tài sản khác trên diện tích đất được giao (đã hết khấu hao không định giá). Tổng trị giá tài sản là 214.062.500đ.

Giao cho ông Cao Bình K được quyền sử dụng 1 phần thửa đất 567 tờ bản đồ số 40 diện tích diện tích là 227,8 m2 theo chỉ giới là A,B,C,12,13,14,15,16,17,18,19,A (trong đó có 115m2 đất ở và 112,8m2 đất vườn) trị giá là: 212.656.880đ và được sở hữu các tài sản trên đất gồm: Một phần nhà cấp bốn diện tích là 40,8m2 trị giá là 9.072.000đ, nhà bếp trị giá là 8.005.000đ (giáp với nhà lớn) và các tài sản khác trên diện tích đất được giao (đã hết khấu hao không định giá). Tổng trị giá tài sản là 229.733.880đ.

Phần tài sản bà D được giao tổng trị giá là 214.062.500đ ít hơn phần tài sản ông K được giao tổng trị giá là 229.733.880đ, nhưng bà D không yêu cầu ông K phải thanh toán tiền chênh lệch tài sản, nên ông K không phải thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà D.

Về công nợ: Bà D và ông K xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

[2.2] Về chi phí tố tụng: Bà D xin tự chịu không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án.

[2.3] Về án phí: Bà Phạm Thị D là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông Cao Bình K là người cao tuổi, ông K không có đơn xin miễn án phí nên ông K phải chịu phí chia tài sản chung là 229.733.880đ x 5% = 11.486.694 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 165 BLTTDS; Điều 33, 38, 39, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 Luật thi hành án dân sự:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị D về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Xác nhận bà Phạm Thị D và ông Cao Bình K có tài sản chung là thửa đất số 567 tờ bản đồ số 40 tại thôn N, xã T, thành phố V do UBND thành phố V cấp số AG 5831 ngày 10/4/2007 diện tích theo giấy CNQSD đất 447m2, diện tích thực tế xác định để chia là 437,8m2 và các tài sản trên đất.

Giao cho bà Phạm Thị D được quyền sử dụng 1 phần thửa đất 567 tờ bản đồ số 40 diện tích diện tích là 210m2 theo chỉ giới là 2,3,4,5,6,7,C,B,2 (trong đó có 115m2 đất ở và 95m2 đất vườn) trị giá là: 209.949.500đ và được sở hữu các tài sản trên đất gồm: Một phần nhà cấp bốn diện tích là 18,5m2 trị giá là 4.113.000đ, nhà kho có diện tích là 25,9 m2 (giáp với nhà lớn), một Phần mái tôn sau nhà có diện tích 11,3 m2; một phần mái tôn trước nhà có diện tích là 38,8m2; một phần sân gạch và các tài sản khác trên diện tích đất được giao (đã hết khấu hao không định giá). Tổng trị giá tài sản bà D được giao là 214.062.500đ. Bà D được quyền sử dụng cổng sắt có trụ cao 2m, tường dào xây cao 1,7m theo chỉ giới 7,8,9,D (đã hết khấu hao không định giá) trên phần đất đường đi, khi nào nhà nước yêu cầu thì bà D phải tháo dỡ. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)

Giao cho ông Cao Bình K được quyền sử dụng 1 phần thửa đất 567 tờ bản đồ số 40 diện tích diện tích là 227,8 m2 theo chỉ giới là A,B,C,12,13,14,15,16,17,18,19,A (trong đó có 115m2 đất ở và 112,8m2 đất vườn) trị giá là: 212.656.880đ và được sở hữu các tài sản trên đất gồm: Một phần nhà cấp bốn diện tích là 40,8 m2 trị giá là 9.072.000đ, nhà bếp có trị giá là 8.005.000đ (giáp với nhà lớn), một Phần mái tôn sau nhà có diện tích 21,7 m2; một phần mái tôn trước nhà có diện tích là 29,2m2; một chuồng gia súc xây đằng sau nhà có diện tích 31m2, một phần sân gạch và các tài sản khác trên diện tích đất được giao (các tài sản trên đã hết khấu hao không định giá). Tổng trị giá tài sản ông K được giao là 229.733.880đ. Ông K được quyền sử dụng một phần tường dào xây cao 1,7m, một phần tường nhà bếp theo chỉ giới D, 10,11,12 xây trên phần đất đường đi, khi nào nhà nước yêu cầu thì ông K phải tháo dỡ. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Ông Cao Bình K không phải thanh toán tiền chênh lệch cho bà Phạm Thị D do bà D không yêu cầu.

Bà Phạm Thị D và ông Cao Bình K có quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

Nếu bên nào sửa chữa cải tạo xây mới phần nhà được chia thì phải đảm bảo phần nhà được chia của bên kia.

Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị D tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phạm Thị D. Ông Cao Bình K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.486.694 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong thời hạn 15 ngày đương sự có mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - CCTHADS thành phố Việt Trì;
  • - UBND phường Dữu Lâu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Thị Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn

  • Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà D khởi kiện ông K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger