Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 39/2024/DS-ST

Ngày: 23-7-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Quang Tuyến, bà Nguyễn Thị Chung.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 150/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-DS ngày 01/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QÐST-DS ngày 18/7/2024 giữa:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần M

Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, D, Cầu G, Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T – Chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1 – Chức vụ: Trưởng phòng Xử lý nợ miền B.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án:

Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1989

Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1981; có mặt

Bị đơn: Ông Nguyễn Thế Q, sinh năm 1984; vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố L, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn Công ty cổ phần Mars do ông Phạm Văn T2 là người đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Ngày 06/10/2022 ông Nguyễn Thế Q vay của ngân hàng TMCP V (V1) tổng số tiền: 693.000.000 đồng theo hợp đồng vay số LN 2208116468846 ngày 06/10/2022.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng thửa đất số 93, tờ bản đồ số 19, địa chỉ tại: xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh nay là phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số DG756582 TD 93 TBD 19, số vào sổ cấp CGN: CS01698 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/06/2022; Ngày 09/08/2022 tại văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Q đã đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thế Q. Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Thế Q. Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết bằng văn bản, công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Thế Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 15/4/2023.

Ngày 29/12/2023, V1 đã tiến hành bán khoản nợ của ông Nguyễn Thế Q cho Công ty cổ phần M theo hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS và Phụ lục đính kèm ký giữa V1 và Công ty cổ phần M. Theo đó, Công ty Cổ phần M đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của V1 đối với khoản nợ đã mua và quyền đối với các tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của ông Nguyễn Thế Q. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật.

Tạm tính đến ngày 11/5/2024, ông Nguyễn Thế Q còn nợ tổng số tiền là: 837.099.277 đồng, trong đó: Nợ gốc: 693.000.000 đồng; Nợ lãi: 136.340.618 đồng; Lãi phạt: 7.758.659 đồng.

Nay Công ty cổ phần M yêu cầu ông Nguyễn thế Q1 phải thanh toán cho Công ty cổ phần M số tiền gốc và lãi tính đến ngày 11/5/2024 là 837.099.277 đồng. Yêu cầu ông Q1 phải thanh toán lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày ông Q1 thanh toán hết nợ. Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật nếu ông Q1 không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, kê biên và tổ chức phát mại khối tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 19, địa chỉ phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Khi phát mại khối tài sản trên, nếu không đủ thanh toán số tiền phải thanh toán thì ông Nguyễn Thế Q vẫn phải trả tiếp số tiền còn thiếu cho Công ty cổ phần M.

Nếu số tiền phát mại khối tài sản trên còn dư so với số tiền phải thanh toán thì Công ty cổ phần M trả lại số tiền dư cho chủ sở hữu.

Trong trường hợp ông Q trả được số tiền phải thanh toán thì Công ty cổ phần M có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp đối với khối tài sản đảm bảo cho chủ sở hữu.

Phía bị đơn, ông Nguyễn Thế Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lí do nên không có bản tự khai và biên bản lấy lời khai đối với ông Q.

Tại phiên toà, phía nguyên đơn Công ty cổ phần M do ông Phạm Văn T2 là đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày ban đầu, đồng thời yêu cầu ông Q có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần M số tiền gốc và lãi tính đến ngày 23/7/2024: Nợ gốc: 693.000.000 đồng; Nợ lãi: 158.201.813 đồng; nợ lãi quá hạn : 2.274.004 đồng. Tổng cộng: 853.475.818 đồng.

Phía bị đơn, ông Nguyễn Thế Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Cũng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự qui định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Căn cứ Điều 463 và 466; Điều 470; Điều 317, Điều 318; 319; 320; 321; 322; 323; Điều 117; Điều 122, Điều 123 Bộ luật Dân sự Căn cứ khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14gày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Thế Q phải trả cho Công ty cổ phần M số tiền tính đến ngày 23/7/2024 là 853.475.818 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 693.000.000 đồng; lãi trong hạn: 158.201.813 đồng; lãi quá hạn: 2.274.004 đồng.

- Kể từ ngày 24/7/2024, ông Nguyễn Thế Q phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP V cho đến khi ông Q thanh toán xong khoản nợ.

- Trong trường hợp Quyết định có hiệu lực pháp luật nếu ông Nguyễn Thế Q không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, kê biên và tổ chức phát mại khối tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số 93, tờ bản đồ số 19, địa chỉ tại: xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh nay là phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số DG756582 TD 93 TBD 19, số vào sổ cấp CGN: CS01698 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/06/2022; Ngày 09/08/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Q đã đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thế Q.

Khi phát mại khối tài sản trên, nếu không đủ thanh toán số tiền phải thanh toán thì ông Nguyễn Thế Q vẫn phải trả tiếp số tiền còn thiếu cho Công ty cổ phần M.

Nếu số tiền phát mại khối tài sản trên còn dư so với số tiền phải thanh toán thì Công ty cổ phần M phải trả lại số tiền dư đó cho chủ sở hữu.

Trong trường hợp ông Nguyễn Thế Q trả được số tiền phải thanh toán thì Công ty cổ phần M có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp đối với khối tài sản đảm bảo cho chủ sở hữu.

- Về án phí, chi phí thẩm định tài sản: Các đương sự phải chịu án phí, chi phí thẩm định tài sản theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thế Q có địa chỉ ở khu phố L, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh phải trả số tiền vay gốc và lãi vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

[2]. Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền và không chấp hành nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi nghe ý kiến trình bày của nguyên đơn; các tài liệu về việc tống đạt các văn bản tố tụng và ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với qui định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho Công ty cổ phần M số tiền gốc là 693.000.000 đồng; lãi trong hạn: 158.201.813 đồng; lãi quá hạn: 2.274.004 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là: 853.475.818 đồng (tính đến ngày 23/7/2024) và buộc ông Q phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 24/7/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng TMCP V cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Đồng thời yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng thể hiện trong hồ sơ vụ án ông Q có nợ Ngân hàng TMCP V tiền gốc và tiền lãi như Công ty cổ phần M trình bày.

[4]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Hợp đồng cho vay số LN 2208116468846 ngày 06/10/2022 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Nguyễn Thế Q trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng cho vay, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù V1 đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Q vẫn không có thiện chí trả nợ. Ngày 29/12/2023 V1 đã tiến hành bán khoản nợ của ông Nguyễn Thế Q cho Công ty cổ phần M theo hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS và Phụ lục đính kèm ký giữa V1 và Công ty cổ phần M. Theo đó, V1 đồng ý bán và Công ty Cổ phần M đồng ý mua khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Thế Q bao gồm các khoản gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng vay mà ông Nguyễn Thế Q đã ký kết với V1. Đồng thời, V1 đã chuyển giao quyền chủ nợ, Công ty Cổ phần M kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của V1 đối với khoản nợ đã mua và quyền đối với các tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của ông Nguyễn Thế Q. Do vậy, Công ty cổ phần M có quyền thực hiện khởi kiện đối với ông Nguyễn thế Q1, ông Q1 có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M theo quy định pháp luật.

Tính đến ngày 23/7/2024, ông Q1 còn nợ Công ty cổ phần M số tiền gốc là 693.000.000 đồng; lãi trong hạn: 158.201.813 đồng; lãi quá hạn: 2.274.004 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là: 853.475.818 đồng. Do ông Q1 vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng nên Công ty cổ phần M đã khởi kiện tại Tòa án. Việc khởi kiện của Công ty cổ phần M yêu cầu Tòa án buộc ông Q1 phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp với Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự nên HĐXX chấp nhận.

[5]. Về lãi suất: Xét sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên là phù hợp với quy định tại Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với chính sách lãi suất của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Dư nợ gốc tính lãi phù hợp với tập sao kê giao dịch tài khoản vay. Như vậy, bảng tính lãi là có căn cứ được chấp nhận. Đối chiếu bảng tính lãi với tập sao kê giao dịch tài khoản vay xác định: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến hết ngày 23/7/2024, lãi trong hạn: 158.201.813 đồng; lãi quá hạn: 2.274.004 đồng. Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 24/7/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số LN 2208116468846 ngày 06/10/2022 cho đến khi ông Q1 thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ.

[6]. Về tài sản thế chấp là thửa đất số 93, tờ bản đồ số 19, địa chỉ tại: xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh nay là phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số DG756582 TD 93 TBD 19, số vào sổ cấp CGN: CS01698 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/06/2022; Ngày 09/08/2022 tại văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Q đã đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thế Q. Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Thế Q. Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết bằng văn bản, công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Trường hợp ông Q không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nói trên thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 19, địa chỉ tại: xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh nay là phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Về chi phí thẩm định tài sản và án phí: Ông Q phải chịu 15.000.000 đồng phí thẩm định tài sản và án phí DSST theo quy định của pháp luật. Hoàn trả nguyên đơn tiền nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

Căn cứ Điều 463 và 466; Điều 470; Điều 317, Điều 318; 319; 320; 321; 322; 323; Điều 117; Điều 122 Điều 123 Bộ luật Dân sự

Căn cứ khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14gày30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Thế Q phải trả cho Công ty cổ phần M số tiền tính đến ngày 23/7/2024 là 853.475.818 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 693.000.000 đồng; lãi trong hạn: 158.201.813 đồng; lãi quá hạn: 2.274.004 đồng.

  2. Kể từ ngày 24/7/2024, ông Nguyễn Thế Q phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP V cho đến khi ông Q thanh toán xong khoản nợ.

  3. Trong trường hợp Quyết định có hiệu lực pháp luật nếu ông Nguyễn Thế Q không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, kê biên và tổ chức phát mại khối tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số số 93, tờ bản đồ số 19, địa chỉ tại: xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh nay là phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số DG756582 TD 93 TBD 19, số vào sổ cấp CGN: CS01698 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/06/2022; Ngày 09/08/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Q đã đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thế Q.

    Khi phát mại khối tài sản trên, nếu không đủ thanh toán số tiền phải thanh toán thì ông Nguyễn Thế Q vẫn phải trả tiếp số tiền còn thiếu cho Công ty cổ phần M.

    Nếu số tiền phát mại khối tài sản trên còn dư so với số tiền phải thanh toán thì Công ty cổ phần M phải trả lại số tiền dư đó cho chủ sở hữu.

    Trong trường hợp ông Nguyễn Thế Q trả được số tiền phải thanh toán thì Công ty cổ phần M có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp đối với khối tài sản đảm bảo cho chủ sở hữu.

  4. Về án phí, chi phí thẩm định tài sản: Ông Nguyễn Thế Q phải chịu 15.000.000 đồng phí thẩm định tài sản và 37.604.275 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Xác nhận Công ty cổ phần M đã nộp 15.000.000 đồng tiền phí đo đạc, thẩm định tài sản trong quá trình giải quyết vụ án, buộc ông Nguyễn Thế Q phải hoàn trả cho Công ty cổ phần M 15.000.000 đồng phí đo đạc thẩm định tài sản.

    Hoàn trả Công ty cổ phần M số tiền 18.556.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0001988 ngày 16/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Quế Võ;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 39/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần M khở kiện ông Nguyễn Thế Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger