Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 23 - 7 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Kỳ Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đức Thuận và ông Trịnh Duy Cường

- Thư ký phiên toà: Bà Doãn Phương Liên - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Bạo - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 20/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 11/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh ngày 05 Tháng 11 năm 1998 tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Đầu bếp; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964; con bà Ngọ Thị N1, sinh năm 1966, cả bố và mẹ hiện sinh sống tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là Đào Thị Ngọc A, sinh năm 2002 và có 01 con, sinh năm 2021, vợ và con hiện sinh sống tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Tiền án, tiên sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 23/4/2024 đến ngày 12/6/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Văn T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện N, Thanh Hóa

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị H, Sinh năm: 1988.

Địa chỉ: Tiểu khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Anh Lê Đức C1, sinh năm 2002.
  2. Địa chỉ: Tiểu khu T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Hoàng Văn A1, sinh năm 1984
  4. Địa chỉ: Tiểu khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 23/4/2024, Nguyễn Văn C, ở tiểu Khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa sử dụng điện thoại vào mạng xã hội Facebook thì thấy tài khoản Facebook "Trần Anh T1" của anh Trần Văn T, sinh năm 1996 ở thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hoa có đăng bài quảng cáo bán điện thoại Iphone 12 Pro Max và Iphone 14 Pro Max. Do muốn sử dụng điện thoại mới nhưng không có tiền mua, C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của anh T. Khoảng 13 giờ ngày 23/4/2024, khi đang nghỉ trưa tại Nhà nghỉ T2 ở thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; C sử dụng điện thoại Iphone 11 Pro Max của mình đăng nhập tài khoản Facebook có tên "Cá Vàng" rồi nhắn tin đến tài khoản Facebook "Trần Anh T1" giả vờ hỏi mua 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max, loại 256GB, màu tím cho mình và 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max, loại 128GB, màu trắng cho vợ. Anh Tú đã tư vấn và đồng ý bán cho C 02 chiếc điện thoại trên với giá 35.500.000 đồng. Sau khi thỏa thuận giá xong, C nhắn tin yêu cầu anh Tú S điện thoại đến thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa rồi C sẽ thanh toán tiền. Sau đó, C sử dụng tài khoản Facebook "Nguyễn Văn C" của mình gọi đến tài khoản Facebook "Lê Đức C1" của anh Lê Đức C1, ở tiểu khu T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (là người quen làm cùng quán ăn với C) và bảo anh C1 đi xe máy đến nhà nghỉ T2 đón C đi có việc. Anh C1 mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen bạc, biến kiểm soát 60C1-285.28 của anh Hoàng Văn A1, ở tiểu khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là chủ quán ăn nơi anh C1 làm việc để đi đến nhà nghỉ T2. Khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, anh C1 đi đến nhà nghỉ T2 và vào phòng 110 gặp C. Tại đây, C nói với anh C1 là mình mới đặt mua được 02 chiếc điện thoại trên mạng và rủ anh C1 đi lấy điện thoại cùng. Anh C1 có hỏi C “Chứ anh mua thật hay lừa, mà lừa thì em không đi đâu”, C nói là mua thật nên anh C1 đồng ý chở C đến cầu L ở tiểu V, thị trấn N,

huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, C tiếp tục sử dụng Facebook "Cá Vàng” gọi cho anh T nói “Anh ơi ship điện thoại xuống cho em cái, em đang ở gần nhà rồi” thì anh T đồng ý. Sau đó, C điều khiển xe chở anh C1 đi đến đoạn đường bờ mương gần khu vực nghĩa trang R ở tiểu khu T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và bảo anh C1 đứng ở đây chờ C đi lấy điện thoại. C một mình điều khiển xe đi đến đoạn đường gần cánh đồng thuộc tiểu khu T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa rồi gọi cho anh T và chỉ đường đến vị trí C đang đứng. Một lúc sau, anh T đi đến, lúc này C đang ngồi trên xe, anh T đưa cho C 01 (một) túi nilon màu đen, hình chữ nhật, có in L “Tú Trần M” màu vàng, bên trong có 02 túi nilon hạt nổ, trong suốt đựng 02 chiếc điện thoại mà C đã đặt mua trước đó để C kiểm tra. Sau khi kiểm tra xong, C giả vờ đồng ý mua rồi treo túi nilon chứa 02 chiếc điện thoại lên móc giá phía trước bên hông xe máy và bảo với anh T cung cấp số tài khoản ngân hàng để C chuyển khoản. Khi anh T đang chuẩn bị đưa số tài khoản (mã QR) cho C thì C nổ máy và tăng ga bỏ chạy. Anh Tú có đuổi theo nhưng không kịp. Sau đó C chạy vào khu nghĩa trang R đón C1 rồi tiếp tục bỏ chạy về hướng tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Về gần đến nhà, C đưa túi nilon cho C1 cầm và bảo C1 lấy 02 chiếc điện thoại ra rồi vứt túi đi. Lúc này, anh C1 mở túi nilon ra thì thấy bên trong có 02 chiếc điện thoại bọc trong túi nilon hạt nổ nên cầm trên tay và vứt các túi nilon xuống cạnh bờ mương. Về đến ngõ nhà C, anh C1 đưa lại 02 chiếc điện thoại cho C rồi điều khiển xe máy đi về quán làm việc. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, C gọi cho C1 và hỏi có ai đến quán tìm C không, đồng thời dặn C1 xóa hết lịch sử cuộc gọi và tin nhắn facebook với C.

Sau khi bị C chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại, anh T đã đến Công an thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa báo cáo vụ việc. Công an thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành xác minh hiện trường vụ việc, ghi lời khai của anh T, rà soát dữ liệu camera an ninh và báo cáo Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Đến 18 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Văn C đã đến Công an thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Đồng thời giao nộp 02 điện thoại mà C đã chiếm đoạt của anh T và 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh của C.

Ngày 24/4/2024, Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản đối với 02 chiếc điện thoại Iphone đã thu giữ được, 01 túi nilon màu đen, hình chữ nhật có in logo “Tú Trần Mobile” màu vàng đã qua sử dụng và 02 túi nilon hạt nổ, hình chữ nhật, màu trong suốt đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 450/KL-ĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, tỉnh Thanh Hóa kết luận:

  • 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, loại 128GB, đã qua sử dụng có giá trên thị trường ngày 23/4/2024 là 11.000.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, loại 256GB, đã qua sử dụng có giá trên thị trường ngày 23/4/2024 là 18.000.000 đồng.
  • 01 (một) túi nilon màu đen, hình chữ nhật, có in logo T Trần Mobile màu vàng; 02 (hai) túi nilon hạt nổ, màu trong suốt, đã qua sử dụng trên thị trường vào thời điểm ngày 23/4/2024 không có giá trị.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 29.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại Trần Văn T, người liên quan và vật chứng là 02 chiếc điện thoại và 01 túi nilon màu đen, có in logo "Tú Trần M" đã thu giữ được; Kết quả kiểm tra tin nhắn trên điện thoại và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

* Đối với anh Lê Đức C1: Quá trình điều tra xác định anh C1 không biết trước, không bàn bạc và không tham gia cướp giật tài sản cùng với Nguyễn Văn C nên không có đủ căn cứ để chứng minh anh C1 đồng phạm với Nguyễn Văn C về hành vi Cướp giật tài sản.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm:

  • - Tạm giữ của Nguyễn Văn C: 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng loại 128GB, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, loại 256GB, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng.
  • - Tạm giữ của anh Hoàng Văn A1: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen bạc, BKS: 60C1-285.28 số khung CY187425, số máy E- 4264699, đã qua sử dụng.
  • - Thu giữ: 01 (một) chiếc túi bằng nilon, màu đen có in logo “Tú Trần M” màu vàng, đã qua sử dụng. Đối với 02 túi nilon hạt nổ, màu trong suốt, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

* Về xử lý đồ vật, tài liệu, vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp gồm: Trả lại cho anh Trần Văn T: 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng loại 128GB; 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím loại 256GB và 01 (một) chiếc túi bằng nilon, màu đen có in logo "Tú Trần M” màu vàng, đã qua sử dụng;

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen bạc, BKS: 60C1-285.28 số khung CY187425, số máy E-4264699 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của chị Hoàng Thị H, sinh năm 1988 trú tại tiểu khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (là vợ anh Hoàng Văn A1). Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H theo quy định.

- Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn C hiện đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Trần Văn T đã được nhận lại các tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSNC ngày 20/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật và tuyên phạt bị cáo cụ thể như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn C từ 30 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm.

Giao bị cáo cho UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho chủ sở hữu và bị hại không có ý kiến gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Hai chiếc điện thoại bị cáo chiếm đoạt của anh T sau khi bị cáo giao nộp đã xác minh làm rõ và sau đó được trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

Chiếc xe máy anh C1 mượn của anh A1 thuộc sở hữu của chị H và bị cáo sử dụng khi đi cướp giật tài sản đã trả lại cho chị H cũng là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại di động của bị cáo sử dụng vào việc liên lạc với bị hại để tạo cơ hội cướp giật tài sản xác định đây là phương tiện phạm tội, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời nói cuối cùng bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong phạm vi Tòa án xét xử đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác. Như vậy, đủ cơ sở chứng minh:

Sau khi sử dụng mạng xã hội để liên lạc với anh Trần Văn T để nói dối mua điện thoại và hẹn anh T đến giao điện thoại cho mình, khi anh T đến đoạn đường gần cánh đồng thuộc tiểu khu T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và giao cho bị cáo một chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max màu trắng loại 128Gb đã qua sử dụng trị giá 11.000.000đ cùng một chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max màu tím loại 256Gb đã qua sử dụng trị giá 18.000.000đ, lợi dụng lúc anh T không để ý, Nguyễn Văn C đã nổ máy xe và tăng ga bỏ chạy tẩu thoát cùng 2 chiếc điện thoại. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn C đã phạm tội "Cướp giật tài sản" theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bản cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội "Cướp giật tài sản" theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là

đúng quy định của pháp luật.

[3] Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn, làm người dân không an tâm khi giao dịch, kinh doanh và quản lý tài sản của mình. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của mình để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách giao nộp cho Cơ quan điều tra tài sản đã chiếm đoạt để trả lại cho người bị hại và bị cáo là người có ông nội là người thamg gia kháng chiến được tặng thưởng huân chương, thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt: Bị cáo là người có nhân thân tốt, đây là lần phạm tội đầu tiên, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và có nơi cư trú ổn định vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cũng có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về bồi thường dân sự: Hai chiếc điện thoại bị cáo chiếm đoạt của anh T đã được bị cáo tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra, sau khi điều tra làm rõ, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại và người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Hai chiếc điện thoại bị cáo chiếm đoạt của anh T sau khi điều tra làm rõ, đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy bị cáo sử dụng để đi đến điểm hẹn gặp anh T là của chị H được anh A1 mượn sử dụng sau đó đưa cho anh C1 sử dụng nhưng anh C1, anh A1 và chị H đều không biết việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại của bị cáo sử dụng vào việc liên lạc với anh T xác định đây là phương tiện phạm tội, vì vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại

khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội..
  2. Tuyên bố Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

  3. Xử phạt Nguyễn Văn C 32 (Ba mươi hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/7/2024).
  4. Giao bị cáo cho UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  5. Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn C hiện đang tạm giữ tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024 giữa Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  6. Về án phí: Buộc Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ án phí HSST.
  7. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Công an huyện Nông Cống;
  • - Chi cục THADS Nông Cống;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ, lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Kỳ Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ về cướp giật tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C phạm tội Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger