Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 23 tháng 4 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Sơn, ông Phạm Công Đợi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn Đ, sinh năm 1970 tại M - Tiền Giang, nơi đăng ký thường trú: ấp C, phường T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo T; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; vợ Sa Ri D; con có 02 người: cùng sinh năm 1999 (đã chết 01 người); anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là người thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 30/12/2008, bị UBND thị xã T ra Quyết định áp dụng đưa vào cơ sở chữa bệnh (nay là Cơ sở điều trị cai nghiện ma tuý tỉnh An Giang) cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, đến ngày 10/12/2010 chấp hành xong.
  • - Ngày 19/01/2016, bị Toà án nhân dân thị xã Tân Châu kết án 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến ngày 05/9/2018 chấp hành xong, xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2023 cho đến nay, có mặt.

2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Hồ Sanh, sinh năm 1999; nơi cư trú: tổ B, ấp P, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  • - Dương Hoài V, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ G, ấp C, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người chứng kiến:

  • - Tô Văn H, sinh năm 1965, vắng mặt.
  • - Nguyễn Văn L, sinh năm 1958, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 06/11/2023, nhận được tin báo, lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh A phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố C đến khu vực tổ A, ấp C, xã V, thành phố C, phát hiện Lê Văn Đ đang điều khiển xe mô tô, biển số 67AH-047.67 chở bao tải màu xanh, có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe, qua kiểm tra, phát hiện trong bao tải có bọc nylon màu đen chứa cành, lá, hoa, quả cây thảo mộc khô. Đạm khai cần sa, được Dương Hoài V thuê chở từ cầu T, xã V đến khu vực C, phường C, thành phố C, tiền công 1.200.000 đồng, trên đường vận chuyển bị phát hiện, chưa nhận tiền công, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.

Cùng ngày, lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ tại tổ B, ấp P, xã C, thị xã T, thu giữ: 01 hộp nhựa có nắp đậy màu xanh, 01 hộp nhựa có nắp đậy màu xám và 01 bọc nylon màu đen, tất cả bên trong đều chứa cành, lá, hoa, quả cây thảo mộc khô; 01 bọc nylon trong suốt có chứa cây thảo mộc khô được băm nhỏ và nhiều dụng cụ liên quan. Qua làm việc, Đ khai nhận là cần sa, mua của người nam (không rõ lai lịch, người Campuchia) cất giấu để sử dụng. Riêng V, mời làm việc, không thừa nhận thuê Đạm vận chuyển cần sa.

Quá trình điều tra, Đ khai: tháng 9/2023, Đ được Dương Hoài V thuê chở 01 bao cần sa khô (khoảng 04 kilôgam) đến khu vực C, phường C, thành phố C giao cho 01 thanh niên (không rõ lai lịch), tiền công 800.000 đồng, đã tiêu xài hết.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 bao tải màu xanh, bên trong có bọc nylon màu đen chứa cành, lá, hoa, quả cây thảo mộc khô;
  • - 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Nokia 105, có gắn sim V1 số 8984, 048, 005, 540;
  • - 01 xe mô tô biển số 67AH-047.67 (thu giữ khi bắt quả tang Đạm);

3

  • - 01 hộp nhựa có nắp đậy màu xanh, 01 hộp nhựa có nắp đậy màu xám và 01 bọc nylon màu đen, tất cả bên trong đều chứa cành, lá, hoa, quả cây thảo mộc khô; 01 bọc nylon trong suốt có chứa cây thảo mộc khô được băm nhỏ; 01 bình sành có gắn ống nhựa; 01 thớt gỗ; 01 dao kim loại cán gỗ; 01 quẹt gas; 01 cân tiểu li màu trắng (thu giữ khi khám xét nhà Đ).

Căn cứ Kết luận giám định số 211/KL-KTHS(MT-GT) ngày 10 tháng 11 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu gửi đến giám định (thu giữ khi bắt quả tang) là ma túy, loại cần sa, khối lượng 5,45 kilôgam. Mẫu gửi đến giám định (thu giữ khi khám xét) là ma túy, loại cần sa, khối lượng 489,6480 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C ban hành Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn Đ về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSCĐ-HS ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Lê Văn Đ về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Lê Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hồ Sanh, Dương Hoài V và những người chứng kiến ông Tô Văn H, Nguyễn Văn L vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu (bút lục 68-75, 78-79, 82-83).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: áp dụng điểm d khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: áp dụng các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: toàn bộ số ma tuý loại cần sa còn lại sau giám định và các đồ vật bị thu giữ sau khám xét; các dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 bình sành có gắn ống nhựa, 01 thớt gỗ, 01 dao kim loại cán gỗ, 01 quẹt gas, 01 cân tiểu li màu trắng;
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màu đen, hiệu N 105, Imei 1: 353115110938064, Imei 2: 353115115938069, có gắn sim V1 số 8984, 048, 005, 540.

4

  • - Trả lại 01 xe mô tô biển số 67AH-047.67 cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Sanh.

Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, trong lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
  • - Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người chứng kiến vắng mặt, mặc dù Toà án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 06/11/2023, tại khu vực tổ A, ấp C, xã V, thành phố C, bị cáo Lê Văn Đ có hành vi vận chuyển 01 tải màu xanh bên trong là bọc nylon màu đen chứa cành, lá, hoa, quả cây thảo mộc khô, qua giám định là ma tuý (loại cần sa), trên đường vận chuyển bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang, thu giữ 5,45 kilôgam cần sa.

Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn mặt khách quan của tội vận chuyển trái phép chất ma tuý; bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1

5

Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...”

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

...”

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý, sử dụng các chất gây nghiện của Nhà nước, vi phạm quy định của Luật Phòng, chống ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 30/12/2008 bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (cơ sở chữa bệnh) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong; ngày 19/01/2016, bị kết án 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến ngày 05/9/2018 chấp hành xong, xoá án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, các vật dụng sử dụng ma tuý gồm 01 bình sành có gắn ống nhựa, 01 thớt gỗ, 01 dao kim

6

loại cán gỗ, 01 quẹt gas, 01 cân tiểu li màu trắng, không có giá trị sử dụng. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Đối với 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Nokia 105, có gắn sim V1 số 8984, 048, 005, 540 được bị cáo sử dụng liên lạc để vận chuyển ma tuý, xác định là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Đối với xe mô tô xe mô tô, biển số 67AH-047.67 là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của Hồ S, S không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện vận chuyển ma tuý, xét giao trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Sanh theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với việc bị cáo Lê Văn Đ khai trước đó được Dương Hoài V thuê chở 01 bao cần sa khô (khoảng 04 kilôgam), ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ khác, Cơ quan điều tra không xem xem xử lý là phù hợp. Ngoài ra, bị cáo Đ còn có hành vi tàng trữ trái phép 489,6480 gam cần sa để sử dụng, dưới khối lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Dương Hoài V không thừa nhận thuê bị cáo Đ vận chuyển cần sa, ngoài lời khai của Đ, không còn chứng cứ khác, Cơ quan điều tra không quy kết trách nhiệm hình sự đối với V là phù hợp.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 03 (ba) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam, ngày 06/11/2023 (ngày sáu, tháng mười một, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

7

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy:

  • - 01 (một) thùng giấy được niêm phong ghi vụ số: 211/KTHS (MT-GT) ngày 10 tháng 11 năm 2023, ký hiệu M₁ có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị Mỹ H1;
  • - 01 (một) thùng giấy được niêm phong ghi vụ số: 211/KTHS (MT-GT) ngày 10 tháng 11 năm 2023, ký hiệu M₂ M₃ M₄ M₅ M₆ có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Â, Nguyễn Thị Mỹ H1;
  • - 01 (một) bình bằng sành, có gắn ống nhựa (dụng cụ sử dụng);
  • - 01 (một) thớt bằng gỗ;
  • - 01 (một) cây dao gỗ bằng kim loại, cán gỗ;
  • - 01 (một) quẹt ga đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) cân tiểu li màu trắng, ghi chữ SHINKO (đã qua sử dụng không kiểm tra thực trạng bên trong).

Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, hiệu N, model: TA - 1174, Imei 1: 353115110938064, Imei 2: 353115115938069, trong máy có gắn 01 sim, Vietel số 8984, 048, 005, 540 (điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra thực trạng bên trong).

Trao trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Sanh: 01 (một) xe mô tô, màu xanh, đen, kiểu dáng Wave, lốc máy có chữ Hon Da biển số: 67AH-047.67, số máy: 039990, số khung: 39990 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra thực trạng bên trong). Theo giấy chứng nhận đăng ký xe hiệu FERROLI.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 4 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

8

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lê Văn Đ có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hồ SDương Hoài V vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Viện KSND tỉnh An Giang (1);
  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà




Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 03 (ba) năm tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger