TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HSST Ngày 23/4/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Kiều Xuân Mai
- 2. Ông Trần Văn Khánh
- - Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đàm Duy Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 23/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/HSST-QĐ ngày 12/4/2024 đối với:
- Bị cáo Hoàng Thị D, sinh ngày 18/4/1958, tại Hà Nội; giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện M, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 03/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Hoàng Ngọc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); Có chồng là Lê Viết T1 (đã chết), có 03 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1991. Về nhân thân: theo D1 chỉ bản số 05 lập ngày 03/01/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi trú. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị hại: Bà Trần Thị L, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Xóm F, Thôn V, xã V, huyện M, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị D: ông Nguyễn Văn T2 -Trợ giúp viên pháp lý thuộc Chi nhánh S1, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/8/2023, bà Trần Thị L có đơn trình báo Cơ quan Công an xã V về việc: Gia đình bà bị hủy hoại khoảng 500 gốc cây hoa hồng đang trồng ở ruộng của gia đình bà L tại cánh đồng bãi thôn V, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội, trị giá tài sản theo bà L là khoảng 20.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định như sau:
Thửa ruộng trồng hoa hồng của gia đình bà Trần Thị L giáp ranh với thửa ruộng trồng cà của Hoàng Thị D. bị cáo D cho rằng bà L đã trồng 01 luống hoa hồng lấn sang phần đất ruộng của mình nên hai bên đã xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/8/2023, bị cáo D cầm theo 01 chiếc cuốc từ nhà đến ruộng cà nhà mình giáp danh với ruộng trồng hoa hồng nhà bà L. Tại đây, bị cáo D dùng chiếc cuốc bổ đứt 382 gốc hoa hồng của bà L được trồng trên 01 luống hoa có chiều dài 54,4m, chiều rộng 1,1m. Trong khi bị cáo D đang cuốc phá hoa hồng, anh Thạch Anh H - Sinh năm: 1986 (ở thôn V, xã V, huyện M) đi qua thấy vậy nên điện thoại cho bà L thông báo cho biết việc bị cáo D phá hoa. Sau khi hủy hoại 382 gốc hoa hồng xong, bị cáo D gọi điện cho con gái là Lê Thị H1 - Sinh năm: 1987 cùng chồng là anh Trương Văn H2 - Sinh năm: 1984 (đều ở thôn V, xã V, huyện M) để bảo H1 và H2 qua dọn dẹp những gốc hoa hồng mà bị cáo D vừa hủy hoại. Đến khoảng 10 giờ 00' cùng ngày, bà L và con dâu là chị Lê Thị H3 - Sinh năm: 1983 (ở thôn V đi ra ruộng hoa hồng để kiểm tra thì thấy bị cáo D và H1 đang dọn dẹp các gốc hoa hồng cho lên xe rùa để H2 đổ ra ngoài đầu bờ ruộng. Sau khi, bị cáo D đổ các gốc hoa đồng ra bờ ruộng thì bị cáo D bỏ đi về nhà.
Về nguồn gốc luống đất trồng hoa hồng bị Hoàng Thị D hủy hoại: căn cứ vào các biên bản xác minh nguồn ngốc đất, UBND xã V cung cấp (bút lục số 71, 72): luống đất do bà Trần Thị L trồng 328 gốc hoa hồng tại cánh đồng đất bãi sông hồng bị hủy hoại là thuộc quyền quản lý sử dụng hộ bà Trần Thị L1 được hợp tác xã T3 chia theo khẩu năm 2006-2007 là thuộc thôn V, xã V, huyện M. Chị Lê Thị Lan V là con gái của bà L1 đứng ra cho bà Trần Thị L thuê.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M Hoàng Thị D đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Vật chứng tạm giữ: Quá trình điều tra, Hoàng Thị D giao nộp cho Cơ quan điều tra các tài liệu liên quan gồm: 01 giấy viết tay hợp đồng thuê, mua đất ghi ngày 01/04/2014 và ngày 01/04/2028 (bên mua Trần Thị L, bên bán Lê Thị Lan V); 328 gốc hoa hồng (sau khi khám nghiệm hiện trường ngày 08/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã bàn giao toàn bộ số hoa hồng cho bà Trần Thị L). Đối với 01 chiếc cuốc bị cáo D dùng để hủy hoại gốc hoa hồng, Cơ quan điều tra đã tiến thành truy tìm nhưng không thu hồi được.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện M kết luận: 328 gốc hoa hồng bị hủy hoại có trị giá là 3.141.600 đồng.
Đối với chị Lê Thị H1 và anh Vương Văn H4 được bị cáo D nhờ dọn dẹp và chở 328 gốc hoa hồng đổ ra đầu bờ ruộng, Khi được gọi đến chở hoa chị H1 và anh H4 không được bàn bạc cũng không tham gia hủy hoại tài sản của gia đình bà L nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 20/3/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã Quyết định truy tố: bị cáo Hoàng Thị D về tội Hủy hoại tài sản theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Thị D, bà Nguyễn Thị L2 có đơn xin vắng mặt nên không có ý kiến.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội bị cáo D, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị D từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
- - Buộc bị cáo Hoàng Thị D phải bồi thường cho bà Trần Thị L 3.140.600 đồng, được trừ vào số tiền 3.200.000 đồng bà D đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Bà D được nhận lại 59.400 đồng.
- Không phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo là hộ nghèo, cận nghèo.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố đối với bị cáo D. Bị cáo thừa nhận hành vi Hủy hoại của mình là sai. Khi phạm tội bị cáo là người hơn 60 tuổi, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo là người trên 60 tuổi và gia đình thuộc hộ cận nghèo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị D với mức án thấp nhất của mức án Viện kiểm sát đề ra và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo là hộ nghèo, cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí cho bà D. Ngoài ra không có nội dung tranh tụng nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội bị cáo D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện M thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an M, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo Hoàng Thị D, bị hại là bà Trần Thị L có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án xét xử, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị cáo D và bà L theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 290, Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và giành quyền kháng cáo cho bị cáo D, bà L theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo Hoàng Thị D gửi cho Tòa án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/8/2023 tại cánh đồng Bãi thuộc thôn V, xã V, huyện M, Thành phố Hà Nội, bị cáo Hoàng Thị D đã có hành vi dùng cuốc hủy hoại 328 gốc hoa hồng của bà Trần Thị L, tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 3.141.600 đồng. Quá trình điều tra không chứng minh được bị cáo còn có đồng phạm nào khác.
Như vậy hành vi của bị cáo Hoàng Thị D đã phạm tội “Hủy hoại tài sản”, được quy định tại Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định: “1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”……….
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì tội phạm đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội nhưng do coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố ý phạm tội.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và chưa có tiền án, tiền sự.
- - Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả do mình gây ra, bị cáo thuộc gia đình hộ nghèo, cận nghèo (giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo số 07/GCN-HN.HCN ngày 03/01/2024 của UBND xã V, huyện M) nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuổi đã cao, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo giao về địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo. Áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra và giải quyết vụ án bị hại là bà Trần Thị L yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bà theo quy định của pháp luật. Ngày 22/4/2023, bị cáo D có nộp số tiền 3.200.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện để khắc phục hậu quả do mình gây ra (do anh Lê Viết H5 là con trai của bà D nộp thay). Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy: cần trả lại cho bà Trần Thị L số tiền 3.140.600 đồng do bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả và trả lại cho bị cáo D 59.400 đồng.
[7] Về án phí: Bị cáo là thuộc hộ nghèo, cận nghèo nên căn cứ vào Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội miễn tiền án phí hình sự và tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- - Tuyên bố: bị cáo Hoàng Thị D phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 178, Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hoàng Thị D cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện M, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trách nhiệm dân sự; án phí, quyền kháng cáo:
Căn cứ vào các Điều 584; 585; 586; 589 Bộ luật dân sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- - Về trách nhiệm dân sự: trả cho bà Trần Thị L 3.140.600 đồng được trừ vào số tiền 3.200.000 đồng do bị cáo D đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội theo Biên lai thu tiền số 8329 ngày 22/4/2024. Bị cáo D được nhận lại 59.400 đồng.
- - Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Thị D.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thịnh Quang Trung |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 39/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hủy hoại tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 39/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị D phạm tội Hủy hoại tài sản
