|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2023/HSST
Ngày: 22/12/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phú và ông Phan Văn Hiếu.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
-
Đào Tiến H, sinh ngày 02/4/2005.
HKTT: thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: chưa có;
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- - Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
-
Nguyễn Tuấn H2, sinh năm 1999.
HKTT: khu N, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn D và bà Nguyễn Thị H3; vợ, con: chưa có.
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- - Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/10/2023 đến nay.
-
Đoàn Văn K, sinh năm 2003;
HKTT: thôn K, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C và bà Nịnh Thị H4; vợ, con: chưa có;
- - Tiền án, tiền sự: Không.
- - Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 711/QĐ-XPHC ngày 05/5/2021 của Công an huyện H, Hà Nội xử phạt 375.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong ngày 06/5/2021.
- - Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
-
Nguyễn Đức T, sinh năm 2002
HKTT: thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Đ và bà Nguyễn Thị H5; vợ, con: chưa có;
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- - Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến ngày 17/8/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Sái Dược Đ1, sinh năm 1999.
HKTT: thôn F, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sái Văn H6 và bà Nguyễn Thị K1; có vợ là Bàn Thị M, sinh năm 2001 và 01 con, sinh năm 2021.
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- - Bị tạm giữ từ ngày 18/8/2023 đến ngày 27/8/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Phạm Văn L, sinh năm 2001.
HKTT: khu N, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân C1 và bà Nguyễn Thị H7; có vợ là Chang Thị C2, sinh năm 2004 và 01 con, sinh năm 2023.
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- - Bị tạm giữ từ ngày 08/8/2023 đến ngày 17/8/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Nguyễn Tuấn G, sinh năm 1998.
HKTT: khu N, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn N và bà Nguyễn Thị Đ2; vợ, con: chưa có;
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- - Bị tạm giữ từ ngày 08/8/2023 đến ngày 11/8/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Bàn Văn T1, sinh năm 2004.
HKTT: thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Văn G1 và bà Bàn Thị Đ3; vợ, con: chưa có;
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- - Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
-
Bùi Xuân T2, sinh năm 2001
HKTT: thôn F, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân T3 và bà Phạm Thị Ngọc L1; vợ, con: chưa có;
- - Tiền án,tiền sự, nhân thân: Không
- - Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Các bị cáo đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Tiến H, Đoàn Văn K, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G và Nguyễn Tuấn H2 đều là công nhân làm việc tại công ty TNHH J. Khoảng 3 giờ ngày 06/8/2023, khi đang làm việc tại xưởng, K có chụp ảnh cá nhân nhưng H2, L, G lại nghĩ là K chụp ảnh nhóm mình mà không xin phép nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. Thấy vậy, H nói sẽ gặp nhóm của H2 để giải quyết mâu thuẫn giúp K. Tuy nhiên, khi H gặp H2 nói chuyện thì H2 lại thách thức “Tao thích đánh màu được không”, Hiệp đồng ý và hẹn nhau tan làm sẽ giải quyết mẫu thuẫn. Sau đó, H nhắn tin qua mạng xã hội Facebook cho Nguyễn Đức T (là bạn quen biết ngoài xã hội của H, đang làm việc tại quán K2, địa chỉ: đường N, khu M, phường P, thị xã Q) để kể về việc bị nhóm H2, L, G dọa đánh, đồng thời nhờ T lên công ty giúp H giải quyết mâu thuẫn. T đồng ý và quay về phòng trọ ở chợ T6, thị xã Q lấy 01 thanh kiếm loại kiếm Nhật dài khoảng 70 cm, bản rộng khoảng 3cm rồi đi sang quán I, địa chỉ: khu M, phường P, thị xã Q gặp Sái D để rủ Đ1 sang công ty J đón H vì H bị doạ đánh, Đ1 đồng ý. Sau đó, cả hai tiếp tục đi đến quán K3, địa chỉ: khu M, phường P, thị xã Q thì gặp Bàn Văn T1, T cũng nói cho T1 biết việc H bị đánh và rủ T1 đi cùng. Lúc này, Đ1 nhặt 01 cán chổi hình trụ tròn bằng kim loại màu trắng dài khoảng 70 cm ở ngoài vỉa hè trước cửa quán rồi cùng T và Văn T1 bắt taxi đi đến công ty J. Khi đi T1 có nhìn thấy T và Đ1 mang theo kiếm, tuýp sắt lên xe. Trên đường đi, T nhắn tin cho H nói sẽ đứng ở cổng công ty chờ.
Khoảng 4 giờ 40 phút cùng ngày, do được anh Trần Anh T4, sinh năm 2005, HKTT: thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Tuyên Quang (là nhân viên quán I có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội với H và T1) kể cho Bùi Xuân T2 là H bị doạ đánh nên T2 nhắn tin qua mạng xã hội Facebook cho H hỏi về việc H bị dọa đánh và hẹn sẽ lên công ty giúp H đánh lại. Sau khi nhắn tin cho H, Xuân T2 tiếp tục nhắn cho Tạ Anh T5, sinh năm 2002, HKTT: thôn A, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang để nhờ T5 đón lên công ty J. Khoảng 5 giờ cùng ngày, T5 một mình điều khiển xe mô tô đến đón Xuân T2 đi đến cổng số 02 của công ty J để đợi H.
Khoảng 4 giờ 50 phút cùng ngày, sau khi nhắn tin cho T và Xuân T2, H đi lên chỗ G, H2 đang làm việc nói “Tí có ra cổng không anh” thì H2 đáp “Giờ ra luôn”. Sau đó, G, H2, L đi ra ngoài cửa xưởng trước nhưng không thấy H đi ra nên quay lại xưởng tìm. Lúc này, H2 đi lên dây chuyền H đang làm việc dùng tay trái khoác và vỗ vai H nói “Đi ra ngoài này tao bảo”. H không trả lời nên H2 tiếp tục dùng tay vỗ một cái vào má bên trái của H. H đứng dậy dùng hai tay đẩy H2 lùi về sau. Thấy vậy, G lao đến đứng đối diện H dùng tay phải đấm một cái vào mắt bên trái của H, còn L cầm một cái ghế bằng kim loại trong xưởng giơ lên định đánh H nhưng được mọi người can ngăn nên các đối tượng đã dừng lại. Việc các đối tượng xô xát trong ca làm việc đã làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của dây chuyền. Do bực tức H nói với nhóm của H2 “Chúng mày ra cổng đợi tao”. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, H2 ra cổng thấy H đang đứng gọi điện thì nghĩ là H đang gọi cho đồng bọn nên H2 đã gọi điện thoại cho G nói “Anh ơi ra cổng đi, chúng nó gọi rồi”. Giang biết sẽ xảy ra mâu thuẫn xô xát nên cầm theo 01 điếu cày bằng tre, bọc ngoài inox màu trắng dài khoảng 50 cm rồi cùng L đi ra cổng. Khi đến nơi thấy K đứng ở cổng, H đang gọi điện thoại ở gần đó thì G lao nhanh về phía H, vứt điều cày xuống đất đồng thời dùng tay phải đấm 01 cái về phía mặt H nhưng H đưa hai tay lên đỡ nên trúng vào cổ tay phải của H. Thấy vậy, H2 và L chạy đến để giúp G, L nhặt điếu cày giơ lên định đánh H thì H bỏ chạy. Thấy hai nhóm đánh nhau ở công ty gây mất trật tự nên bảo vệ của công ty và K ra can ngăn nhưng G, L đẩy K ra và tiếp túc đuổi theo H chạy vào phía trong công ty. Lúc này, bảo vệ tiếp tục vào can ngăn thì các đối tượng không đuổi đánh nữa nhưng vẫn đứng chửi bới, thách thức nhau trong sân công ty.
Khi nhóm của H2 đang chửi nhau với H thì T, Văn T1 và Đ1 đi taxi đến. Bảo vệ công ty mở cổng cho H, K đi ra ngoài. Lúc này, Xuân T2 và T5 cũng đến nơi thì thấy H đang đứng cùng K, T, Văn T1, Đ1 nên Xuân T2 một mình đi bộ đến chỗ H thì H chỉ tay về nhóm của H2 đang đứng trong công ty ý nói cho mọi người biết nhóm người có mẫu thuẫn với H, còn T5 ngồi trên xe cách đó khoảng 20m. Bảo vệ công ty đóng cổng không cho nhóm của H vào. Lúc này, nhóm của H đứng ở ngoài chửi bới và thách thức qua lại với nhóm của H2 đứng trong sân công ty. Quá trình chửi nhau, T cầm kiếm, Đ1 cầm tuýp sắt giơ lên chỉ về phía nhóm của H2 để dọa. H, K, Văn T1, X, Đ1 thấy các đối tượng cầm hung khí thách thức, chửi bới nhóm của H2 thì cũng chửi cùng. Khoảng 2 phút sau thì T, Đ1 cất hung khí lại vào xe taxi. Các đối tượng chửi bới khoảng 10 phút thì đến giờ tan ca nên bảo vệ mở cổng cho nhân viên về. Thấy vậy, Hiệp nhặt nửa viên gạch xây KT 10x10cm ở vệ đường cầm ở tay phải định đi vào công ty nhưng bị bảo vệ ngăn lại nên H vứt gạch lại bên đường. Sau đó, nhóm của H đi vào bên trong công ty. H lao về phía H2 chửi bới đồng thời dùng tay đấm vào mắt trái của H2, H2 dùng tay đấm lại nhưng H đưa tay trái lên đỡ được. Thấy vậy, G chạy đến đẩy H ra thì bị H dùng tay đấm một cái vào mặt, rồi H tiếp tục đánh H2. Lúc này, T cũng lao vào dung tay, chân đấm đá 2-3 cái vào người H2. Sau đó, H2 bỏ chạy thì H và Xuân T2 chạy đuổi theo H2 về phía bãi cỏ phía bên trái cổng số 02 (tính theo hướng từ phía trong ra).
Xuân T2 chạy lên trước dùng chân phải đạp vào lưng H2 khiến H2 ngã về phía trước. Khi chạy đến nơi thì, Xuân T2 và H cùng lao vào vừa chửi vừa dùng tay, chân đánh, đấm liên tiếp vào người H2. H2 nằm nghiêng bên phải, úp mặt phải xuống đất, hai tay đưa lên ôm đầu, không kịp chống trả.
Khi H và Xuân T2 đánh H2, thì K và L lao vào đánh nhau. Thấy vậy, T cũng chạy đến dùng chân đạp L nhưng L tránh được và bỏ chạy. T đuổi theo dùng tay đấm liên tiếp vào vùng đầu, lưng của L và giơ đầu gối chân phải huých từ dưới lên trên vào người L nhưng L dùng tay đỡ được và đấm lại Tạo 2-3 cái. Văn Tú cũng chạy đến cùng Tạo đấm nhiều cái vào người L. Sau đó, T dùng hai tay túm cổ áo của L kéo ra phía ngoài cổng đồng thời hô to “Lôi thằng này ra ngoài cổng”. Còn G và Đ1 cũng lao vào dùng chân, tay đánh nhau. K thấy T túm được cổ áo L kéo ra ngoài thì chạy đến dùng tay đấm liên tiếp vào người G, G vùng chạy về phía T và tiếp tục dùng tay, chân đánh nhau khiến T ngã xuống đất và kéo L ngã cùng. Lúc này, K, Đ1 chạy đến cùng T đứng quây xung quanh L và dùng tay chân đấm, đá liên tiếp vào người L. L, G định chống trả nhưng được mọi người can ngăn. Các đối tượng dừng lại không đánh nhau nữa. Tạo, Văn T1, Đ1 và K đi ra ngoài cổng. Sau khi đánh H2, Xuân T2 đi ra ngoài cổng còn H vẫn tiếp tục đánh H2 thêm 2-3 cái rồi cũng chạy ra ngoài cổng. Khi ra gần đến cổng H gặp G và L đang đứng ở đó nên H trèo cửa cổng để bỏ chạy thì bị G, L túm chân kéo H quay lại nhưng H vẫn trèo ra ngoài được. Lúc này, Đ1 cầm tuýp sắt, T cầm kiếm đứng ở gần cổng chĩa về phía nhóm của G để dọa nhóm G không dám đuổi theo nữa. Sau đó, các đối tượng lần lượt bỏ về còn H2 bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu. Lúc này khoảng 5 giờ 30 phút ngày 06/8/2023, thời gian các đối tượng đuổi đánh nhau trong công ty là khoảng 40 phút.
Sau khi sự việc xảy ra, công ty TNHH J1 cùng quần chúng nhân dân có đơn phản ánh đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q về việc các đối tượng cầm hung khí chửi bới, xô xát đánh nhau làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, gây hoang mang, lo sợ đối với công nhân trong công ty và người dân xung quanh đồng thời đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định pháp luật.
Ngay sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành xác minh, triệu tập các đối tượng lên làm việc. Trong các ngày 06, 18, 19/8/2023 và ngày 04/10/2023, Đào Tiến H, Nguyễn Đức T, Bàn Văn T1, Sái D, Đoàn Văn K, Bùi Xuân T2, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G, Nguyễn Tuấn H2 lần lượt đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đầu thú và khai nhận hành vi của bản thân như đã nêu ở trên.
*Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định:
- - Hiện trường 1 là khu vực nhà xưởng mài của công ty TNHH J thuộc Khu công nghiệp Q, khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Xưởng rộng 20x50m, cửa chính hướng phía Tây. Tại vị trí giữa Line 8 và 9, cách tường nhà xưởng lần lượt từ hướng Đông và N1 là 6,5m và 7m là vị trí nhóm H, K và nhóm L, H2, G xô xát, đánh nhau.
- - Hiện trường 2 là khu vực xung quanh cổng số 02 của công ty TNHH J:
- + Tại vị trí cách mép ngoài vỉa hè bên trái cổng số 02 20cm được xác định là vị trí nhóm của H đứng chửi bới, thách thức, giơ kiếm, tuýp sắt doạ nhóm của G đứng trong công ty.
- + Tại vị trí cách mép phía trong cổng số 02 12m, cách hàng rào phía Tây nhà để xe mô tô của công ty 20m được xác định là vị trí nhóm của G đứng chửi bới, thách thức với nhóm của H đứng bên ngoài cổng. Sau đó nhóm của G và nhóm của H xảy ra xô xát đánh nhau tại đây.
- + Tại vị trí trước khu nhà xưởng công ty được xác định là vị trí G, Hiển, H xô xát đánh nhau.
- + Tại vị trí cách mép tường phía trong tường phía Bắc của công ty G2, cách mép cổng bên trái (tính theo hướng từ ngoài vào) 12,5m được xác định là vị trí H2 bị thương. (BL 158-160A).
* Thu giữ vật chứng:
- - Phạm Văn L giao nộp 01 (một) điếu cày bằng tre, bọc ngoài vỏ bằng kim loại màu trắng, dài 56cm, đường kính 04cm; (BL: 764)
- - Nguyễn Đức T giao nộp 01 (một) kiếm dài 72cm, lưỡi kiếm bằng kim loại, màu trắng, dài 49cm, bản rộng (vị trí rộng nhất 03cm, vị trí bé nhất 2.5cm), có một lưỡi sắc, mũi kiếm nhọn vát một bên; tay cầm dài 23cm, bọc dây vải màu tím, trắng; (BL: 750)
- - Sái Dược Đ1 giao nộp 01 (một) đoạn ống tuýp bằng kim loại, màu trắng, hình trụ tròn, có đường kính 02cm, dài 70cm, một đầu bị cong, bẹp; (BL: 772)
- - 01 USB bên trong chứa các đoạn video camera thể hiện quá trình xô xát đánh nhau của các đối tượng do công ty TNHH J1 cung cấp.
- - Đối với chiếc ghế bằng kim loại L định dùng để đánh H và nửa viên gạch xây KT 10x10cm Hiệp định dùng để đánh nhau, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.
*Về trách nhiệm dân sự:
- - Đối với thương tích của H2, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trưng cầu giám định thương tích đối với H2 nhưng H2 kiên quyết từ chối giám định mặc dù đã được Cơ quan điều tra thực hiện dẫn giải theo quy định nên không xác định được tỉ lệ thương tích của H2.
- - Quá trình giải quyết vụ án, H, Xuân T2, Đ1, T đã bồi thường cho H2 số tiền 200.000.000 đồng. H2 đã nhận tiền đồng thời có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H, T2, Đ1, T.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 200/CT - VKSQV ngày 30/11/2023 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố các bị cáo Đào Tiến H, Nguyễn Tuấn H2, Đoàn Văn K, Nguyễn Đức T, Sái D, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G, Bàn Văn T1 và Bùi Xuân T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, Khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo trên đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nêu trên và ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX:
Tuyên bố các bị cáo Đào Tiến H, Nguyễn Tuấn H2, Đoàn Văn K, Nguyễn Đức T, Sái D, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G, Bàn Văn T1 và Bùi Xuân T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Đoàn Văn K từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Xử phạt các bị cáo Đào Tiến H và Bùi Xuân T2 mỗi bị cáo từ 26 tháng đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 tháng đến 60 tháng. Trả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa.
- + Xử phạt bị cáo Bàn Văn T1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H2 từ 26 tháng đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 tháng đến 60 tháng.
- + Xử phạt các bị cáo Nguyễn Đức T, Sái D, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G mỗi bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.
Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kiếm sắt, 01 gậy tuýp sắt, 01 điếu cày.
- - Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB bên trong chứa các đoạn video thể hiện các đối tượng xô xát đánh nhau.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo các bị cáo trên đều nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện VKSND thị xã Quế Võ, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người chứng kiến, xác định hiện trường vụ án, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Đào Tiến H, Nguyễn Tuấn H2, Đoàn Văn K, Nguyễn Đức T, Sái D, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G, Bàn Văn T1 và Bùi Xuân T2 tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; biên bản khám nghiệm hiện trường, các bản tự khai, các biên bản ghi lời khai của bị cáo, người liên quan, người chứng kiến và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 4 giờ 50 phút ngày 06/8/2023, do có mẫu thuẫn với nhau từ trước nên nhóm của Đào Tiến H gồm Đào Tiến H, Đoàn Văn K và nhóm của Nguyễn Tuấn H2 gồm Nguyễn Tuấn H2, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G xảy ra xô xát đánh nhau tại khu vực nhà xưởng của công ty TNHH J1, địa chỉ: Khu công nghiệp Q, khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh ngay trong ca làm việc. Sau đó, H nhắn tin nhờ Nguyễn Đức T; Tạo đã rủ Bàn Văn T1 và Sái D; còn Bùi Xuân T2 tự đến công ty để giúp H giải quyết mâu thuẫn. Đến 5 giờ cùng ngày, hai nhóm đối tượng hẹn gặp nhau ở khu vực cổng số 02 của công ty. Tại đây, nhóm của H có hành vi cầm kiếm, tuýp sắt; nhóm của H2 cầm điếu cày để đe dọa, chửi bới và xô xát, đuổi đánh nhau trong khuôn viên của công ty với khoảng thời gian 40 phút, đúng giờ tan ca của công nhân công ty, gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, gây hoang mang, lo sợ đối với công nhân trong công ty và ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp “dùng hung khí".
Do vậy, các bị cáo Đào Tiến H, Nguyễn Tuấn H2, Đoàn Văn K, Nguyễn Đức T, Sái D, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G, Bàn Văn T1 và Bùi Xuân T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm gây mất trật tự nơi công cộng của các bị cáo này là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến an toàn công cộng được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ, gây ra sự hoang mang, lo lắng trong dư luận quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội của địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, cần có một mức hình phạt nghiêm khắc để có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo nói riêng và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[2.3] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thì thấy:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, tất cả các bị cáo đều trực tiếp thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng.
Bị cáo H, K, H2, G, L là những người phát sinh mâu thuẫn đầu tiên sau đó rủ các bị cáo khác đi đánh nhau, dùng hung khí để gây rối nên có vai trò cao nhất trong vụ án.
Vai trò thứ hai và ngang nhau là các bị cáo T, Đ1 đã chuẩn bị kiếm và tuýp sắt để cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi gây rối.
Vai trò thấp nhất và ngang nhau là các bị cáo Xuân T2, Văn T1 có hành vi tham gia gây rối cùng các đối tượng.
[2.3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, các bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ1 có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì và Huân chương kháng chiến hạng Ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo K có nhân thân xấu, ngày 05/5/2021, K bị Công an huyện H, thành phố Hà Nội xử phạt 375.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng, đã chấp hành xong ngày 06/5/2021.
[2.5] Về hình phạt:
Đối với Đoàn Văn K, có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, khó giáo dục và cải tạo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với các bị cáo Đào Tiến H, Nguyễn Tuấn H2, Nguyễn Đức T, Sái D, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G, Bàn Văn T1 và Bùi Xuân T2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng. Nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 BLHS cũng có đủ điều kiện để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[2.6] Về vật chứng của vụ án:
- - 01 thanh kiếm sắt, 01 gậy tuýp sắt, 01 điếu cày là công cụ phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, có giá trị nhỏ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 USB bên trong chứa các đoạn video thể hiện các đối tượng xô xát đánh nhau là chứng cứ của vụ án nên lưu theo hồ sơ vụ án.
- - Đối với chiếc ghế bằng kim loại, L định dùng để đánh H và nửa viên gạch xây KT 10x10cm Hiệp định dùng để đánh nhau, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.
[2.7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với thương tích của H2, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trưng cầu giám định thương tích đối với H2 nhưng H2 kiên quyết từ chối giám định mặc dù đã được Cơ quan điều tra thực hiện dẫn giải theo quy định nên không xác định được tỉ lệ thương tích của H2. Quá trình giải quyết vụ án, H, Xuân T2, Đ1, T đã bồi thường cho H2 số tiền 200.000.000 đồng. H2 đã nhận tiền đồng thời có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H, T2, Đ1, T.
[2.8] Liên quan đến vụ án này:
Đối với Tạ Anh T5 điều khiển xe mô tô đưa Xuân T2 đến công ty J, quá trình điều tra xác định T5 không biết việc Xuân T2 đến công ty để tham gia đánh nhau cùng nhóm của H, T5 cũng không tham gia đánh nhau cùng các đối tượng trên mà chỉ đứng ngoài đợi. Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý gì mà chỉ nhắc nhở T5 là phù hợp.
Đối với hành vi đánh H2 của H và Xuân T2, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích đối với H và Xuân T2 là đúng quy định.
[2.7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Đào Tiến H, Nguyễn Tuấn H2, Đoàn Văn K, Nguyễn Đức T, Sái D, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G, Bàn Văn T1 và Bùi Xuân T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn K từ 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2023.
- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt các bị cáo Đào Tiến H, Nguyễn Tuấn H2 mỗi bị cáo 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt Bùi Xuân T2 26 (Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt các bị cáo Bàn Văn T1, Nguyễn Đức T, Sái D, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G mỗi bị cáo 25 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 50 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Đoàn Văn K 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác cho các bị cáo Đào Tiến H, Bùi Xuân T2 và Bàn Văn T1.
- Áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Giao các bị cáo Đào Tiến H, Nguyễn Đức T cho UBND xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao các bị cáo Nguyễn Tuấn H2, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G cho UBND phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao bị cáo Sái Dược Đ4 cho UBND xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao bị cáo Bàn Văn T1 cho UBND xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Giao bị cáo Bùi Xuân T2 cho UBND xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- 7. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 điếu cày bằng tre, bọc ngoài vỏ bằng kim loại màu trắng, dài 56cm, đường kính 04cm;
- - 01 kiếm dài 72 cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu trắng dài 49cm, bản rộng (vị trí rộng nhất 03cm, vị trí bé nhất 2.5cm), có một lưỡi sắc, mũi kiếm nhọn vát một bên; tay cầm dài 23cm, bọc dây vải màu tím, trắng;
- - 01 (một) đoạn ống tuýp bằng kim loại, màu trắng, hình trụ tròn, có đường kính 02cm, dài 70cm, một đầu bị cong, bẹp;
- - Lưu hồ sơ vụ án 01 USB bên trong chứa các đoạn video thể hiện các đối tượng xô xát đánh nhau, ghi lại bởi camera của Công ty TNHH J.
- Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/11/2023 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.
- 8. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Đào Tiến H, Nguyễn Tuấn H2, Đoàn Văn K, Nguyễn Đức T, Sái D, Phạm Văn L, Nguyễn Tuấn G, Bàn Văn T1 và Bùi Xuân T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- 9. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Phú |
Phan Đình Công |
|
Phan Văn Hiếu |
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đình Công |
Bản án số 39/2023/HSST ngày 22/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 39/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
