Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Doãn

Ông Phan Văn Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc và điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện H, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo

1.Bị cáo: Nguyễn Anh H, sinh năm 1980 tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn (không đi học); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết), con bà Phạm Thị Q, sinh năm 1951, bị cáo có vợ và 01 con nhưng hiện nay đã ly thân; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 137/2002, ngày 23/7/2002 của Tòa án nhân dân huyện Bình Thạch, thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 17/10/2003 bị cáo chấp hành xong hình phạt và nộp án phí.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/05/2024 đến ngày 10/5/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

2. Bị cáo: Lê Văn T, sinh năm 1990 tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, con bà Lê Thị H1, có vợ là Hà Thị C và có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2020; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2016/HSST, ngày 27/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, xử phạt bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 27/10/2016 bị cáo nộp án phí và đến ngày bị bắt đã chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/5/2024 đến ngày 10/5/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

3. Bị cáo: Lê Ngọc H2, sinh năm 1995 tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT: Khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2, con bà Trương Thị N, chưa có vợ và con; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 08/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến ngày 13/7/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí, theo bản án số 30/2021/HSST ngày 08/6/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/6/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm: 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người chứng kiến tham gia tố tụng:

2. Ông Phạm Lê T3, sinh năm: 1964. (có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

3. Anh Phạm Bá C1, sinh năm: 1987. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/5/2024, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã T làm nhiệm vụ tại khu V thuộc thôn T, xã T, huyện H phát hiện Lê Văn T và Lê Ngọc H2 vừa có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên đã kiểm tra và bắt quả tang. Tiến hành thu giữ tại chỗ đối với Lê Ngọc H2, gồm: 01 (một) gói giấy thiếc bạc chứa 0,068 g ma túy loại Heroine và 01 (một) chiếc điện thoại di động N1 105 màu đen đã qua sử dụng, có gắn sim số 0989.038.725 dùng để liên hệ mua ma túy của Lê Văn T; thu giữ tại chỗ số tiền 500.000 đồng do Lê Văn T giao nộp và khai nhận là tiền bán ma túy cho Lê Ngọc H2 và 01 (một) chiếc điện thoại Sam sung S9 màu hồng đã qua sử dụng, có gắn sim số 0986.580.029 dùng để liên hệ bán ma túy cho Lê Ngọc H2 (bút lục: 01 và 02).

Quá trình làm việc với Cơ quan Công an, Lê Văn T và Lê Ngọc H2 khai nhận: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 04/5/2024 Lê Văn H4 điện thoại nhờ Lê Văn T tìm hỏi có ai bán ma túy thì lấy hộ cho H4 500.0000 đồng ma túy để sử dụng, Lê Văn T hẹn lại Lê Ngọc H2 đến trưa cùng ngày sẽ điện lại. Khoảng 12 giờ 30 phút Lê Văn T đang nghỉ trưa tại nhà Nguyễn Anh H thì H2 điện thoại cho T và hỏi “ Đã mua được ma túy cho H2 chưa” T nói lại và hẹn H2 lên khu vực N, thuộc thôn T xã T, đồng thời hướng dẫn đường đi cho H2 đến địa điểm. Lúc này Lê Văn T nhìn thấy Nguyễn Anh H đang sử dụng ma túy tại bán uống nước nên hỏi H để lại ma túy cho H2 với giá 400,000 đồng, H đồng ý để và cắt một ít ma túy loại H5 đưa cho T mang đi bán cho H2 thì bị bắt quả tang.

Nguyễn Anh H khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/5/2024, H đi xe khách ra huyện Đ, thành phố Hà Nội mua được 90 viên ma túy loại Methamphetamine và 6.000.000 đồng ma túy loại Heroine của người đàn ông khoảng 45 tuổi, cao khoảng 01m65 (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau đó, Nguyễn Anh H mang về nhà sử dụng một ít và chia cắt đưa cho Lê Văn T một ít ma túy gói vào giấy thiếc bạc mang đi bán. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/5/2024, khi Lê Văn T vừa bán 01 (một) gói ma túy loại Heroine với giá 500.000 đồng cho Lê Ngọc H2 tại khu vực N, thuộc thôn T, xã T, huyện H bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã T kiểm tra và bắt quả tang.

Khám xét người và chỗ ở của Nguyễn Anh H đã thu giữ được 12,745 gam ma túy loại Heroine và 8,738 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 (một) điện thoại Nokia 1616 màu tím than cũ đã qua sử dụng, có gắn sim số 0976.641.529.

Khám xét chỗ ở của Lê Văn T và Lê Ngọc H2 nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 1807/KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • - Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,068 g loại Heroine (H).
  • - Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M5 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,316 g loại Heroine (H).
  • - Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M6 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 12,429 g loại Heroine (H).
  • - Chín mươi viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu M6 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 8,738 g loại Methamphetamine.

Toàn bộ vật chứng của vụ án được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện H để bảo quản và xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKSHL ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Nguyễn Anh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251, của Bộ luật Hình sự.

Lê Văn T bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251, của Bộ luật Hình sự.

Lê Ngọc H2 bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, không thay đổi, bổ sung và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo.

Về Trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh H, Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Lê Ngọc H2 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về mức hình phạt chính:

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H, mức án từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 04 tháng 5 năm 2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T, mức án từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 04 tháng 5 năm 2024.

Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Ngọc H2, mức án từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19 tháng 6 năm 2024.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, được đựng trong phong bì niêm phong do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Nokia 105 màu đen cũ đã qua sử dụng của Lê Ngọc H2; 01 điện thoại Sam sung S9 màu hồng cũ đã qua sử dụng của Lê Văn T và số tiền 500.000 đồng được nộp vào Kho bạc Nhà nước huyện H. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh H 01 điện thoại Nokia 1616 màu tím than cũ đã qua sử dụng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc do không liên quan đến vật chứng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Anh H, Lê Văn TLê Ngọc H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến, quan điểm tranh luận về tội danh và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của các bị cáo đều nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy và thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của VKS đã truy tố. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho các bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và sớm trở về gia đình đoàn tụ, làm ăn sinh sống trở thành công dân lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự tố tụng. Quá trình điều tra không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đảm bảo tính khách quan trong hoạt động điều tra, truy tố, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng khi khai báo. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Anh H không biết chữ nhưng Điều tra viên chưa thực hiện việc ghi âm, ghi hình theo quy định.

[2]. Về chứng cứ buộc tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn TLê Ngọc H2 khai nhận, vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/5/2024, tại khu vực N, thuộc thôn T, xã T, huyện H. Lê Văn T vừa bán một gói ma túy loại Heroine cho Lê Ngọc H2 lấy 500.000 đồng thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang. Tiến hành lập biên bản thu giữ và niêm phong của Lê Ngọc H2 01 gói giấy thiếc bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 điện thoại Sam sung S9 màu hồng cũ đã qua sử dụng; thu giữ của Lê Văn T 01 điện thoại Nokia 105 màu đen cũ và một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Các bị cáo thừa nhận đã dùng điện thoại trên liên lạc với nhau để mua ma túy. Mục đích mua ma túy của H2 là nhằm để sử dụng. Tại bản kết luận giám định số 1807/KL- KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,068 gam loại Heroine.

[2.1]. Nguyễn Anh H khai nhận, vào khoảng 13 giờ ngày 04/5/2024 Lê Văn T đang nghỉ trưa tại nhà H thì có nghe điện thoại của ai đó, nghe xong thì có hỏi H để lại cho T một ít ma túy loại H6 rôine với giá 400.000 đồng, lúc này H đang sử dụng ma túy tại bàn nên H đồng ý và lấy dao lam cắt một ít ma túy gói vào giấy thiếc bạc đưa cho T mang đi bán, sau đó thì T bị bắt. Tại biên bản khám xét nơi ở của Nguyễn Anh H vào khoảng 16 giờ cùng ngày, Cơ quan điều tra còn thu giữ được và niêm phong vật chứng gồm: 01 gói giấy thiếc bạc màu vàng, bên trong có chứa đựng chất bột màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng, bên trong có chứa đựng chất bột màu trắng; 01 túi ni lông màu xanh, kích thước 5 x10cm bên trong có chứa đựng 90 viên nén màu hồng và 01 điện thoại Nokia1616 màu xanh đen cũ có gắn sim số đã qua sử dụng. Toàn bộ số ma túy trên Nguyễn Anh H thừa nhận, vào ngày 03/5/2024, H tự một mình đón xe khách ra huyện Đ, thành phố Hà Nội mua được 90 viên ma túy loại Methamphetamine và 6.000.000 đồng ma túy loại Heroine của người đàn ông (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) với mục đích mua số ma túy trên để sử dụng và bán cho người khác để kiếm lời, bao gồm các loại ma túy trên. Tại bản kết luận giám định số 1807/KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • - Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M5 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,316 gam loại Heroine.
  • - Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M6 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 12,429 gam loại Heroine.
  • - Chín mươi viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu M6 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 8,738 gam loại Methamphetamine.

Như vậy, lời khai nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với đặc điểm vật chứng bị thu giữ, được giám định tại Bản kết luận giám định số 1807/KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập theo trình tự pháp luật tố tụng. Do đó có đủ căn cứ nhận định. Toàn bộ khối lượng chất ma túy được thu giữ tại nhà của bị cáo Nguyễn Anh H, là của bị cáo mua bán cất giữ, nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của BLHS; Lê Văn T đã thực hiện hành vi bán ma túy cho Lê Ngọc H2 hưởng lợi bất chính. Hành vi của Lê Văn T có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Lê Ngọc H2 mua ma túy nhằm mục đích sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Tuy ma túy loại Hêrôine có khối lượng 0,068 gam là chưa đủ định lượng tại khoản 1 Điều 249 của BLHS nhưng bị cáo đang có tiền án về tội ma túy chưa được xóa án tích, nên lần thực hiện hành vi này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3]. Xét tính chất của vụ án: Tội phạm ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy nói chung có tác hại đến sức khỏe con người và có thể là nguyên nhân gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác, làm mất an ninh trật tự và an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân và cộng đồng dân cư. Tội phạm ma túy đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng nên cần phải xử lý, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của BLHS. Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, tuy nhiên đối với bị cáo H mức độ khai báo chưa thực sự thành khẩn, chưa ăn năn hối cải, ngoài ra không có tình tiết khác để đánh giá, xem xét làm căn cứ giảm nhẹ cho các bị cáo.

[5]. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Anh HLê Văn T đều đã bị kết án về tội phạm về sở hữu, tính đến ngày phạm tội các bị cáo đã được xóa án tích theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 107 của BLHS nhưng là người có nhân thân xấu.

[6]. Đánh giá vai trò đồng phạm thấy; trong vụ án này Nguyễn Anh HLê Văn T cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng tính chất đồng phạm giữa H và T chỉ là đồng phạm giản đơn và đều có chung mục đích là hám lợi, thu lợi bất chính.Trong đó nguồn ma túy có được mà bị cáo T mang đi bán là của bị cáo Nguyễn Anh H cung cấp, nên bị cáo H có vị trí, vai trò chính. Bị cáo Lê Văn T là người nhận mua ma túy của Nguyễn Anh H mang đi bán nên có vị trí, vai trò thứ hai. Đối với hành vi của bị cáo Lê Ngọc H2 không có đồng phạm với các bị cáo Nguyễn Anh HLê Văn T.

[7]. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 BLHS, để các bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này, lấy đó làm bài học cảnh tỉnh để sau khi mãn hạn tù trở về gia đình, cộng đồng sinh sống, luôn hướng thiện trở thành công dân tốt cho xã hội.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, chưa có tài sản riêng có giá trị để bảo đảm điều kiện thi hành, nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 35 BLHS.

[9]. Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên được tịch thu tiêu hủy. Đối tài sản là điện thoại của các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy và số tiền 500.000 đồng được nộp vào Kho bạc Nhà nước theo giấy Ủy nhiệm ngày 02/8/2024 là vật chứng vụ án cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh H 01 điện thoại Nokia 1616 màu tím than cũ đã qua sử dụng của theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc. Cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm bảo quản, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Anh H, Lê Văn TLê Ngọc H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Anh H, Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Anh H 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 04/5/2024).

Xử phạt: Lê Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 04/5/2024).

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Ngọc H2 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 19/6/2024).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ phong bì thư có đặc điểm được dán kín niêm phong, bên trong có chứa đựng mẫu vật còn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Nokia 105 màu đen cũ đã qua sử dụng của Lê Ngọc H2; 01 điện thoại Sam sung S9 màu hồng cũ đã qua sử dụng của Lê Văn T và số tiền 500.000 đồng được nộp vào Kho bạc Nhà nước theo giấy Ủy nhiệm ngày 02/8/2024.Trải lại cho bị cáo Nguyễn Anh H 01 điện thoại Nokia 1616 màu tím than cũ đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 8 năm 2024. Cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm bảo quản, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Anh H, Lê Văn TLê Ngọc H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Hậu Lộc;
  • - Chi cục THA DS huyện Hậu Lộc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Nghi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nghi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger