Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 22-5-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bình
  2. Bà Bùi Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Nhà văn hoá thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 26/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Danh D, sinh năm 1998 tại xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh T và con bà Tăng Thị H; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định XPVPHC số 87 của Công an huyện T, hình thức phạt tiền 2.500.000₫ về hành vi xâm phạm đến sức khoẻ người khác. Bị cáo đang tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Ông Phan Nhật T1, sinh năm 1977 ; (xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Tăng Thị H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

+ Ông Nguyễn Huy K, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Văn Đ;

+ Anh Tăng Thị T2.

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 17/1/2024, anh Phan Nhật T1 điều khiển xe điện nhãn hiệu Osaka màu đen, không treo BKS, trên yên xe ghi dòng chữ BKS 34MĐ1-280.42 đến ruộng rau thuộc xứ đồng Cúng Cùng, gần chân đê thuộc thôn L, xã T, huyện T để hái rau. Anh T1 dựng xe trên đường bê tông, rút chìa khoá. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Danh D đi bộ mang theo đèn để soi cua. Khi đi đến đường bê tông D nhìn thấy chiếc xe điện nêu trên không có người quản lý nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. D dong xe điện về, cất giấu ở chuồng lợn gia đình. Sau đó, D nói với anh Phạm Văn Đ là xe của bà ngoại cho, không dùng muốn bán, nhờ Đ dong giúp xe đi bán. Đ đồng ý. D điều khiển xe máy Honda Wave BKS 34B3- 749.23 đẩy phía sau, Đ ngồi lên xe điện điều khiển đến cửa hàng mua xe điện do ông Nguyễn Huy K ở thôn T, xã T, huyện T. Đ ở ngoài đợi, D vào gặp ông K nói xe của gia đình, bán cho ông K với giá 2.000.000đ. Số tiền bán xe Dương tiêu xài cá nhân hết, Đ không được hưởng lợi từ số tiền bán xe của D. Đến 20 giờ cùng ngày, anh T1 phát hiện mất xe đã trình báo Công an.

Kết luận định giá tài sản số 03/KL- HĐGTS ngày 15/2/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc xe điện nhãn hiệu OSAKAR màu đen, loại ONEC, BKS 34MĐ1-280.42 đã qua sử dụng tại thời điểm hiện tại có giá trị là 2.350.000đ.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Danh D về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp 01 chiếc xe điện trị giá 2.350.000₫ như cáo trạng đã mô tả; xin được cải tạo tại địa phương. Bị cáo, bà Tăng Thị H mẹ bị cáo xác định chiếc xe máy Honda Wave BKS 34B3- 749.23 là tài sản của bà H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo D từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Về hình phạt bổ sung không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu bồi thường nên không đặt ra giải quyết. Vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe máy Honda Wave BKS 34B3- 749.23. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án xác định bà Tăng Thị H, ông Nguyễn Huy K là người làm chứng. Nay tại phiên toà, Hội đồng xét xử thay đổi tư cách tham gia tố tụng của bà H, ông K là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 19h30 phút ngày 17/1/2024, tại khu vực vườn C Cùng thuộc thôn L, xã T, huyện T, Nguyễn Danh D đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe đạp điện, màu đen, nhãn hiệu Osaka trị giá 2.350.000₫ của ông Phan Nhật T1.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khoẻ người khác nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

[5] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; ông Nguyễn Huy K nhận lại số tiền mua xe nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[8] Về vật chứng: Đối với 01 xe máy Honda Wave màu đen bạc, BKS 34B3-749.23, số khung RLHSA 3907 HY 404870, số máy JA39EO380012 bị cáo không phải là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, mặt khác bị cáo và bà Tăng Thị H (mẹ bị cáo) xác định đây là tài sản của bà H nên cần trả lại cho bà H.

[9] Về vấn đề khác:

Anh Phạm Văn Đ, ông Nguyễn Huy K không biết chiếc xe điện trên là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có; anh Đ không được hưởng lợi từ số tiền bán xe trộm cắp nên không xem xét xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Danh D phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh D 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về vật chứng: Trả lại cho bà Tăng Thị H 01 xe máy Honda Wave màu đen bạc, BKS 34B3-749.23, số khung RLHSA 3907 HY 404870, số máy JA39EO380012.
  4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - Cơ quan THAHS, HSNV- Công an huyện Thanh Hà;
  • - Cơ quan THAHS- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Danh D trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger