|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HSST Ngày: 21 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Hưng và ông Lương Minh Côn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST- HS ngày 26 tháng 04 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXX ngày 28/5/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 24/9/1997;
Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn T1 (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962. Trú tại thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; bị cáo có 02 chị, em, T là con thứ hai; có vợ: Vũ Thúy H, sinh năm 1995, trú tại xóm A, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vợ chồng có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Nguyễn Văn T bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại: Công Ty Trách nhiệm hữu hạn MTV C – Chi nhánh T5.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Thu H1 – Chức vụ: Giám đốc chi nhánh
Người đại diện theo uỷ quyền:
- Bà Phan Thị Hồng A, sinh năm 2000; – Chức vụ: Nhân viên
- Địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Giấy ủy quyền số 16/2024/GUQ – JTTN ngày 31/3/2024)
- Bà Hoàng Thị Thu H2, Chức vụ: Nhân viên pháp chế Công ty
- Địa chỉ: số 1 Bắc Kạn, Hoàng Văn T2, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
(Giấy ủy quyền số 2112/GUQ ngày 21/12/2023 của Giám đốc Chi nhánh).
(Vắng mặt do đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn C – Chi nhánh tỉnh T5 (Công ty C) được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh T cấp giấy chứng nhận hoạt động chi nhánh theo quy định. Ngày 17/06/2023, Công ty Trách nhiệm hữu hạn C – Chi nhánh tỉnh T5 ký hợp đồng dịch vụ số 01270300 với Nguyễn Văn T. Chức danh chuyên môn của T là COD giao (nhân viên giao hàng, thu tiền hộ từ khách hàng và nộp lại tiền thu hộ về Công ty), nơi làm việc tại địa điểm kinh doanh số 12 (bưu cục Đ) có địa chỉ tại TDP C, thị trấn H, huyện Đ. Giao dịch trực tiếp với nhân viên Bưu cục là chị Hoàng Thị H2. T được Công ty C cấp 01 mã nhân viên số 01270300. Theo Hợp đồng, công việc cụ thể của T là hàng ngày từ 7 giờ sáng đến Bưu cục nhận các đơn hàng (bưu gửi), sau đó chuyển các đơn hàng theo địa chỉ mã đơn hàng, đồng thời, thu lại tiền COD (tiền hàng thu hộ) và tiền cước phí vận chuyển theo từng bưu gửi, đến trước 20 giờ hàng ngày phải có trách nhiệm bàn giao hàng hóa còn lại chưa phát thành công thu của khách hàng giao cho Bưu cục. Khi giao hàng thành công, T phải dùng mã nhân viên của mình đăng nhập vào ứng dụng J&T Sprinter để đăng ký trạng thái đã giao hàng thành công cho Bưu cục (gọi là thao tác ký nhận trên ứng dụng), T đã cam kết tuân thủ chính sách quản lý và giao nộp tiền về công ty theo đúng quy định là vào 18 giờ hàng ngày, T phải bàn giao cho Công ty toàn bộ số tiền COD và tiền cước đã chuyển thành công cho khách hàng và đơn hàng chưa chuyển được.
Theo đó, ngày 29/11/2023, T đến Bưu cục làm việc. Chị Hoàng Thị H2 (sinh năm 1996, trú tại xóm T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, là nhân viên của Bưu cục Đại Từ, Công ty TNHH MTV C) xuất hàng giao cho Nguyễn Văn T 86 đơn hàng với tổng số tiền COD và cước là 43.101.234 đồng. T giao cho khách thành công 57 đơn hàng và có kí nhận trên hệ thống với tổng số tiền COD và cước là 19.322.944 đồng, T trả về kho 29 đơn hàng chưa giao được cho khách.
Ngày 30/11/2023, theo quy định T phải nộp đủ tiền COD và cước về Công ty thì mới được mang hàng mới đi giao, nhưng T không nộp tiền về Công ty vì cho rằng lỗi hệ thống chuyển tiền nên hứa sẽ chuyển tiền về Công ty vào trước 10 giờ ngày 30/11/2023. Do đó, Công ty tiếp tục giao cho T 81 đơn hàng với tổng số tiền (COD) và tiền cước là 38.994.368đ để T đi giao cho khách. Ngày 30/11/2023, T giao thành công 49 đơn với tổng số tiền thu được là 32.545.171đ, số đơn không giao được T trả về công ty là 32 đơn. Nhân viên của Công ty yêu cầu T nộp lại số tiền của cả hai ngày giao hàng thành công nhưng T không giao nộp mà đồng thời tự ý nghỉ việc tại bưu cục huyện Đ. Tổng số tiền T đã giao thành công cho khách hàng và đã thu tiền (có ký nhận trên hệ thống) trong hai ngày là 51.868.115đ (năm mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi tám ngàn một trăm mười lăm đồng). Nhân viên của Bưu cục đã nhiều lần liên lạc với T để yêu cầu T trả tiền về Công ty nhưng không liên lạc được với T nên Công ty C đã làm đơn trình báo Công an huyện Đ đề nghị giải quyế theo quy định.
Trong quá trình điều tra vụ án, bản thân T thừa nhận do hoàn cảnh gia đình khó khó khăn, vợ chồng lục đục nên T chiếm đoạt số tiền thu hộ khách hàng của Công ty để chi tiêu cá nhân và trang trải cuộc sống gia đình.
Về trách nhiệm dân sự, quá trình điều tra, ngày 16/01/2024 T đã tự nguyện khắc phục hậu quả nộp lại cho Công ty C toàn bộ số tiền chiếm đoạt 51.868.115đ (năm mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi tám ngàn một trăm mười lăm đồng). Công ty đã nhận đủ và không có yêu cầu giải quyết thêm đối với T.
Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 69 /CT - VKSĐT ngày 27/5/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố Nguyễn Văn T về tội "Tham ô tài sản", quy định tại Điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
- Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng.
Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ được hưởng: Bị cáo được hưởng 03 tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Tham ô tài sản”. Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự; Điều 38; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 đến 04 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Trách nhiệm dân sự đã bồi thường xong nên không đặt ra việc giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, người liên quan không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo mong Hội đồng xét xử cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đều là hợp pháp.
[1.2]. Người tham gia tố tụng là người bị hại (đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV C – Chi nhánh T5, vắng mặt tại phiên toà - do có đơn xin được xét xử vắng mặt). Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt họ. Xét việc những người tham gia tố tụng vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng người tham gia tố tụng là người bị hại trong vụ án, giành quyền kháng cáo cho họ theo quy định của pháp luật.
[2]. Đánh giá về tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyên Văn T3 khai nhận: Là nhân viên có ký Hợp đồng dịch vụ số 01270300 đề ngày 17/6/2023 và 01 bản cam kết của nhân viên đối với Công ty, làm việc tại Bưu cục Đại Từ của Công ty TNHH MTV C – Chi nhánh T5. Chức danh chuyên môn của T3 là COD giao (nhân viên giao hàng, thu tiền hộ từ khách hàng và nộp lại tiền thu hộ về Công ty). Theo công việc được phân công, ngày Ngày 29/11/2023, T3 đến Bưu cục, được chị Hoàng Thị H2 - là nhân viên của Bưu cục Đại Từ, Công ty TNHH MTV C) giao cho T3 86 đơn hàng với tổng số tiền COD và cước là 43.101.234 đ (Bốn mươi ba triệu một trăm linh một ngàn hai trăm ba mươi tư đồng). T3 giao cho khách thành công 57 đơn hàng và có kí nhận trên hệ thống với tổng số tiền COD và cước thu được là 19.322.944 đ (Mười chín triệu ba trăm hai mươi hai ngàn chín trăm bốn mươi bốn đồng), T3 trả về kho 29 đơn hàng chưa giao được.
Ngày 30/11/2023, Công ty tiếp tục giao cho T3 81 đơn hàng, T3 đi giao cho khách thành công 49 đơn với tổng số tiền thu được là 32.545.171đ (Ba mươi hai triệu năm trăm bốn mươi lăm ngàn một trăm bẩy một đồng), T3 trả về công ty là 32 đơn hàng chưa giao được.
Tổng số tiền trong hai ngày giao hàng, T3 nhận được 51.868.115đ (năm mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi tám ngàn một trăm mười lăm đồng). Sau khi bị phát giác, bị cáo đã tự nguyện hoàn trả toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho Công ty.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng chức năng, quyền hạn được Công ty TNHH MTV C – Bưu cục Đại Từ tin tưởng giao nhiệm vụ giao hàng cho các khách hàng và thu tiền nộp lại cho Công ty, trong hai ngày thu tiền hàng được 51.868.115đ (năm mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi tám ngàn một trăm mười lăm đồng), nhưng không giao nộp mà chiếm đoạt toàn bộ để chi tiêu cá nhân.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T được hướng dẫn tại Khoản 5 Điều 2 và khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 03/NQ – HĐTP ngày 30/12/2020, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, thì người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản do mình quản lý theo quy định trong các Công ty TNHH thì bị xử lý về tội “Tham ô tài sản”. Do đó, hành vi chiếm đoạt số tiền do mình quản lý của Nguyễn Văn T đủ căn cứ xác định bị cáo đã phạm tội “Tham ô tài sản”.
[3]. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn văn T4 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty C mà mình có trách nhiệm quản lý là trái pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt trong hai ngày liên tiếp nên xác định phạm tội nhiều lần là tình tiết định khung hình phạt. Viện kiểm sát nhân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung “Điều 353 Bộ luật hình sự: Tội tham ô tài sản”.
- Người nào lợi dụng ... quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng ... thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
- Phạm tội 02 lần trở lên.
[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của Công ty TNHH MTV C – Chi nhánh T5, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Công ty và nhân viên quản lý; chỉ vì viện dẫn và đổ lỗi cho hoàn cảnh gia đình lục đục, nên bị cáo đã lợi dụng quyền hạn được giao là nhân viên giao hàng và thu tiền của khách hàng để nộp về cho Công ty mà bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 51.868.115đ (năm mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi tám ngàn một trăm mười lăm đồng), để chi tiêu mục đích cá nhân.
Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn nhận tội và hoàn trả toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của Công ty. Tuy nhiên, bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần liên tiếp là tình tiết định khung hình phạt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã chủ động và hợp tác với Cơ quan điều tra, đã khắc phục hậu quả số tiền đã chiếm đoạt. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có ông ngoại là liệt sỹ, bà ngoại là Mẹ Việt Nam anh hùng nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5]. Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết xử hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo một thời gian nhất định để làm gương răn đe chung và cũng đảm bảo được tính nghiêm minh của luật pháp
Xét toàn diện nội dung của vụ án, thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật hình sự, nên xét thấy trường hợp của bị cáo đã thỏa mãn điều kiện áp dụng Điều 5 Nghị quyết số 03/NQ – HĐTP ngày 30/12/2020, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về nguyên tắc xử lý với tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ quy định như sau:
“ Người phạm tội sau khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra” và cũng đủ căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đồng thời cũng đủ để cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa chung.
[6].Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy bị cáo bị phạt hình phạt tù có thời hạn nên không thể đảm nhiệm công tác hiện tại trong khoảng thời gian nhất định, tính nguy hiểm của hành vi bị cáo gây ra cho xã hội không còn nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 353 của Bộ luật hình sự để phạt bổ sung đối với bị cáo cấm đảm nhiệm công việc nhất định.
[7].Về bồi thường thiệt hại: Đối với người bị hại là Công ty TNHH MTV C Chi nhánh T5, người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra vụ án, chị Hoàng Thị Thu H2 và Phan Thị Hồng A xác nhận Công ty đã nhận đủ số tiền do bị cáo khắc phục hậu quả, không yêu cầu gì thêm phần trách nhiệm dân sự, việc bồi thường đó là phù hợp và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận bị cáo đã thực hiện xong bồi thường dân sự.
[8]. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị H2 là nhân viên Bưu cục Đại Từ, người trực tiếp giao nhận hàng cho bị cáo, tại phiên tòa cũng xác nhận: Đối với những đơn hàng do T giao không thành công trong hai ngày 29 và 30/11/2023 đã được trả lại Bưu cục do chị đảm nhận, chị đã nhận lại các đơn hàng là hàng hóa do T giao lại đầy đủ. Do đó, không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
[9]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.
[10]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tham ô tài sản”.
2. Hình phạt chính:
Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 353; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/02/2024
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
4. Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn T đã chủ động giao nộp đủ số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của Công ty TNHH MTV C – Chi nhánh T5: 51.868.115đ (năm mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi tám ngàn một trăm mười lăm đồng). Bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ dân sự.
5. Án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có mặt người có quyền lợi liên quan tại phiên toà. Báo cho biết, bị cáo và người liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt đại diện theo ủy quyền của người bị hại tại phiên tòa. Báo cho biết, người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 69/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tham ô tài sản
- Số bản án: 69/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo tham ô số tiền trên 50 triệu
