TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21/5/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Bình
Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 734/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc T - sinh năm 1991.
Nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Diễm T1 - Sinh năm 1978.
Nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Hiện tại bà Nguyễn Ngọc Diễm T1 đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T trình bày:
Ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Ngọc Diễm T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 79 ngày 09/8/2018. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung nhà tại khu phố A, phường Đ một thời gian sau đó chuyển ra ở trọ. Vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ tháng 08 năm 2022. Nguyên nhân do ông T phát hiện ra bà
1
T1 có hành vi sai trái, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người và cũng bị Tòa án đưa ra xét xử nhiều lần mà trước khi kết hôn ông không tìm hiểu kỹ. Ngày 16/11/2022, bà T1 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, ông đã cố gắng hàn gắn khuyên nhủ nhưng sau khi bà T1 về địa phương lại tiếp tục có hành vi phạm tội lừa đảo tại địa bàn huyện B và bị tạm giam từ ngày 17/01/2024. Ông nhận thấy bà T1 có tư cách đạo đức không tốt nên không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này. Nay ông đã không còn tình cảm nữa nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn với bà Nguyễn Ngọc Diễm T1.
Về con chung: Hai người không có con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn bà Nguyễn Ngọc Diễm T1 trình bày như sau:
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, bà Nguyễn Ngọc Diễm T1 trình bày: Bà và ông Nguyễn Quốc T có tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ đúng như ông T trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại khu phố A, phường Đ, thành phố P - T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 10 năm 2023 thì ông T bỏ đi theo người phụ nữ khác nên mới nảy sinh ý định ly hôn, ngoài ra hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Hiện tại, bà vẫn còn yêu thương chồng nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Hai người không có con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 04/3/2024 có xác nhận của Nhà tạm giữ Công an huyện N, bà Nguyễn Ngọc Diễm T1 trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Quốc T. Đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.
Do đang bị tạm giam trong vụ án hình sự, bà đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Ngọc Diễm T1. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ở phường Đ, TP . - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Ngày 04/3/2024, bị đơn bà Nguyễn Ngọc Diễm T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về tình trạng hôn nhân: Xét cuộc hôn nhân giữa ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Ngọc Diễm T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 79 ngày 09/8/2018, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T cho rằng bà Nguyễn Ngọc Diễm T1 có hành vi sai trái, vi phạm pháp luật nhiều lần, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, thể hiện qua việc bà T1 bị nhiều bản án của Tòa án kết tội về các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vợ chồng không chung sống từ tháng 8 năm 2022 đến nay, không còn đi lại, quan tâm chăm sóc nhau. Tại phiên tòa, ông T giữ yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Xét thấy, hạnh phúc gia đình cần được vun đắp, hàn gắn từ hai phía. Trong cuộc hôn nhân này, bà T1 muốn hòa giải đoàn tụ nhưng bản thân lại vi phạm pháp luật hình sự, dẫn đến ông T không tiếp tục muốn chung sống, và không muốn duy trì hôn nhân. Bà T1 sau khi chấp hành án phạt tù xong được một thời gian ngắn lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và bị giam nên không thể hàn gắn tình cảm.
Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa ông T, bà T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.
[2.2] Về con chung: Hai người không có con chung
[2.3] Tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P-T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
3
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Quốc T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Nguyễn Quốc T được ly hôn với bà Nguyễn Ngọc Diễm T1.
2. Về con chung: Hai người không có con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Quốc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) ông Nguyễn Quốc T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000486 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Nguyễn Quốc T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/5/2024), bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
4
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trần Văn Bình Nguyễn Thị Minh Trâm | Nguyễn Thị Nga |
5
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
