|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày: 21/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thu Anh
bà Nguyễn Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa: bà Lục Thanh Hương- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Tạ Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Văn H, tên gọi khác: không; sinh ngày: 17/7/1979, tại: Y, Hưng Yên; nơi cư trú: thôn C, xã H, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn B và bà Nguyễn Thị H1; có vợ và 02 con; tiền án; tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 20/6/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 10/9/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, xử phạt 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/01/2024, bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Văn K, tên gọi khác: không; sinh ngày: 24/11/1984, tại: M, Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn C, xã H, thành phố M, Quảng Ninh nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S và bà Bùi Thị T; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 20/12/2004 bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đầu thú ngày 29/01/2024, bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Phạm Thị H2, sinh năm 1986; nơi cư trú: thôn C, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên toà.
+ Bùi Thị N, sinh năm 1980; nơi cư trú: thôn C, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Phạm Thị Hường L;
- Người chứng kiến: Vi Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11/2023, Trần Văn K quen biết người đàn ông tên là S1 (không rõ lai lịch, địa chỉ), qua nói chuyện K biết S1 có pháo nổ do Trung Quốc sản xuất bán, nên đã nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán kiếm lời. Sau đó, K nói cho Ngô Văn H biết và bảo H tìm người mua để bán, Hợp đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 10/01/2024, H nhận được điện thoại của người đàn ông tên là L1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) có số điện thoại 0358.154.xxx, đặt vấn đề hỏi mua 05 hộp pháo giàn, Hợp đồng ý bán. Tiếp đó, H gọi điện thoại cho K đặt mua 05 hộp pháo giàn, K đồng ý và gọi điện thoại cho S1 đặt mua 05 hộp pháo giàn, với giá 800.000 đồng/01 hộp. Xong, K gọi điện thoại cho H, báo giá 900.000 đồng/01 hộp pháo giàn, Hợp đồng ý mua và hẹn gặp nhau tại nhà của H. Sau đó, H gọi điện thoại cho L1, báo giá 1.000.000đồng/01 hộp pháo giàn, L1 đồng ý mua và chuyển số tiền 7.200.000 đồng (trong đó có 05 triệu đồng tiền mua pháo, 200.000 đồng tiền công gọi điện thoại và 02 triệu đồng tiền nợ đã mua pháo trước đó), đến số tài khoản 8090205387496 mở tại Ngân hàng N1 cho H, rồi hẹn gặp nhau tại khu vực bãi rác, đường liên thôn C, xã H, thành phố M. Tiếp đến, khoảng 11 giờ ngày 11/01/2024, sau khi mua được pháo, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 14P4-5009 chở theo bao tải dứa màu xanh, bên trong có 05 hộp pháo giàn đến nhà của H ở thôn C, xã H bán cho H lấy 4.500.000 đồng và được H cho thêm 200.000 đồng. Sau đó, H cho bao tải dứa bên trong chứa 05 hộp pháo giàn vào 01 chiếc thùng sốp màu trắng, rồi điều khiển mô tô BKS 14K1-361.14 chở đến khu vực bãi rác ở đường liên thôn C, xã H, để bán cho L1. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến nơi, H bê thùng xốp bên trong có 05 hộp pháo giàn đặt xuống dưới đất để chờ bán cho L1, thì bị Công an thành phố M phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 05 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, kích thước mỗi hộp (5,4x5,4x4,8)cm, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài; 01 thùng xốp màu trắng, bên ngoài có dán băng dính màu vàng; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus, màu vàng, gắn sim số 0973.245.133 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC, màu sơn đen, BKS 14K1-361.14.
Ngày 29/01/2024, Trần Văn K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đầu thú.
Tại Bản kết luận giám định số 321/KL-KTHS ngày 12/01/2024, của V - Bộ C1, kết luận: 05 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, vỏ ngoài bọc giấy màu, kích thước mỗi hộp (5,4x5,4x4,8)cm, bên trong mỗi khối hình hộp gồm 36 vật hình trụ, vỏ bọc giấy được liên kết với nhau, ghi thu của Ngô Văn H, gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất. Tổng khối lượng pháo là 7,5kg.
Bản Cáo trạng số 274/CT-VKSMC ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Ngô Văn H và Trần Văn K về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo Trần Văn K và Ngô Văn H, đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tai cơ quan điều tra và được nêu trong nội dung Bản cáo trạng. Bị cáo Trần Văn K và Ngô Văn H, còn khai trước đó K đã bán cho H 05 bánh pháo nổ, với giá 700.000 đồng/01 bánh, rồi H bán cho L1, với giá 1.000.000 đồng/01 bánh; K khai chiếc điện thoại sử dụng vào việc mua bán pháo, sau đó đã rơi mất và không nhớ địa điểm. Các bị cáo xác định điều luật, khung hình phạt mà Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện.
Về xử lý vật chứng: đối với 7,5kg pháo hoa nổ, đã sử dụng hết trong quá trình giám định; số vật chứng còn lại, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định; xe mô tô BKS 14P4-5009, quá trình điều tra xác định là tài sản chung của vợ, chồng Trần Văn K, chị Phạm Thị H2 (vợ của K) không biết K sử dụng xe vào việc phạm tội, nên không thu giữ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Phạm Thị H2 (vợ của bị cáo K) có lời khai: xe mô tô BKS 14P4-5009 là tài sản chung của vợ chồng và là phương tiện đi lại của gia đình. Việc bị cáo K dùng xe máy thực hiện hành vi chở pháo đến nhà bị cáo H, chị không biết; cơ quan điều tra không thu giữ. Tại phiên toà chị đề nghị Hội đồng xét xử không thu giữ xe, để chị được tiếp tục sử dụng. Đối với số tiền 500.000đ chị tự nguyện nộp thay cho bị cáo K Chi cục Thi hành án thành phố Móng Cái ngày 23/4/2024, chị đồng ý để Hội đồng xét xử xử lý theo pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bùi Thị Ncủa bị cáo H) có lời khai: xe mô tô BKS 14K1-361.14 là do chị mua trả góp của Công ty CP T1tháng 9/2023, chị đã trả hết tiền mua xe. Chiếc xe này là phương tiện duy nhất của gia đình. Bị cáo Hg xe máy thực hiện hành vi chở pháo đi bán, chị không biết. Tại phiên toà chị đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe cho chị, để chị được tiếp tục sử dụng. Ngoài ra chị N để khắc phục hậu quả cho bị cáo H ra, chị đã nộp 5,000,000đ (theo biên lai thu số 002332 ngày 23/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái) chị đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo pháp luật.
Người chứng kiến Vi Văn Cmặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/01/2024 anh được lực lượng công an mời tham gia chứng kiến việc kiểm tra 01 ngươi đàn ông cùng 01 xe mô tô BKS 14K1-361.14, tại vị trí mặt đất bên cạnh người đàn ông có 01 thùng xốp màu trắng, bên ngoài có dán băng dính màu vàng. Người đó khai tên là Ngô Văn Hh năm 1979; nơi thường trú: thôn C, xã H, thành phố M, Quảng Ninhông tác yêu cầu mở thùng xốp để tiến hành kiểm tra, bên trong có 01 bao tải dứa màu xanh đựng 05 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm, kích thước giống nhau, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài. Hi nhận 05 khối hộp hình chữ nhật trên đều là pháo nổ do Trung Quốc sản xuất, được H của anh Kh năm 1984 cùng ở thôn C xã Hà em vợ của H giá 900.000đ/hộp pháo rồi bán lại cho đối tượng tên Llố điện thoại 0385,154.035 (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 1.000.000đ/hộp pháo, nhằm mục đích kiếm lời. Trên đường đi giao pháo cho L1bị bắt giữ.
Lời khai của người làm chứng Phạm Thị H3 hồ sơ xác định: khoảng 10 giờ ngày 11/01/2024 khi chị đang ngồi bán hàng nước tại khu A, phường T có người đàn ông đến nhờ chị chuyển số tiền 7.200.000đ vào tài khoản số 8090205387496 ngân hàng A Ngô Văn H đã chuyển tiền thành công và được trả 20.000đ tiền phí chuyển. Chị không biết lai lịch của người nhờ chuyển cũng như người nhận tiền và không biết rõ mục đích của họ chuyển tiền để làm gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 5; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Văn H15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 11/01/2024; xử phạt bị cáo Trần Văn K(mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 29/01/2024.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng xốp màu trắng; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 sim điện thoại số: 0973.245.xxx
- + Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu vàng thu của bị cáo Hợp.
- + Thu số tiền: 700.000đ của bị cáo K.000₫ của bị cáo Hđược do thu lời bất chính từ việc bán pháo (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị H2 chị Nộp thay cho các bị cáo tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái ngày 23/4/2024; bị cáo K phải nộp 200.000₫).
- + Trả lại cho chị Bùi Thị Nc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC màu sơn đen, BKS 14K1-361.14 và số tiền 4.500.000đ theo biên lai thu số 0002332 ngày 23/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Mu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người chứng kiến và người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: khoảng 11 giờ ngày 11/01/2024, tại thôn C, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng NinhVăn Hhành vi mua trái phép 7,5kg (bảy phẩy năm ki lô gam) pháo hoa nổ, do Trung Quốc sản xuất của Trần Văn K đích để bán kiếm lời. Đến 12 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, Ngô Văn H số pháo hoa nổ trên đến khu vực đường liên thôn C, xã H, thành phố Mbán, thì bị Công an thành phố Mt hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn KNgô Văn Hm vào tội: “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đó là chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm. Các bị cáo trong vụ án này đều nhận thức được điều này nhưng chỉ vì hám lợi đã có hành vi bất chấp pháp luật mua bán pháo nổ vì vậy cần lên một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: hành vi của các bị cáo là độc lập. Tuy nhiên các bị cáo có bàn bạc với nhau về việc H người mua pháo; K người bán để có pháo bán lại cho H cùng mục đích vì lợi nhuận. Do đó Hội đồng xét xử nận thấy các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn và đánh giá vai trò của các bị cáo là ngang nhau
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Văn HTrần Văn Knh khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo K khi phạm tội đã đầu thú; ngày 23/4/2024 các bị cáo tác động gia đình tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính có được từ việc buôn bán pháo vào ngân sách nhà nước để khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 thùng xốp màu trắng; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 sim điện thoại số: 0973.245.xxx không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng thu giữ của bị cáo Hphương tiện bị cáo dùng liên lạc mua bán pháo, nên cần tịch thu phát mại, nộp ngân sách Nhà nước;
- + Số tiền: 700.000đ của bị cáo K.000đ của bị cáo Hđược do thu lời bất chính từ việc bán pháo nên cần thu nộp ngân sách nhà nước. (Bị cáo Htác động gia đình nộp đủ số tiền trên theo Biên lai thu số: 0002332; ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái); Bị cáo Ktác động gia đình nộp 500.000đ theo Biên lai thu số: 0002333; ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái. Bị cáo K phải nộp thêm 200.000đ.
- + Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC màu sơn đen, BKS 14K1-361.14 là tài sản chung của gia đình bị cáo Ngô Văn Hcáo sử dụng xe để chở pháo, gia đình không ai biết. Xét thấy đây là phương tiện duy nhất của gia đình bị cáo, tại phiên toà chị Nề nghị xin lại chiếc xe để duy trì sinh hoạt trong gia đình nên trả lại cho vợ bị cáo là chị Bùi Thị Nlại cho chị Bùi Thị Niền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002332 ngày 23/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái.
[7] Trong vụ án này có các đối tượng tên là S1Trần Văn KNgô Văn Hi là người đã bán và mua trái phép pháo hoa nổ, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ xử lý.
- - Số tài khoản 030395103468 mở tại Ngân hàng TMCP S20 Ngô Văn Hi là số tài khoản của đối tượng S1g để thanh toán tiền mua pháo cho H trình điều tra xác định số tài khoản là của bà Phạm Thị Hường L năm 1968, trú tại: thôn A, xã H, thành phố ML được một người đàn ông không quen biết nhờ chuyển tiền hộ, và được trả công 20.000 đồng, bà Lg biết người đàn ông chuyển tiền để mua pháo nổ, nên không cấu thành tội phạm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Ngô Văn HTrần Văn Ki chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Ngô Văn H(mười lăm) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 11/01/2024.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Văn K(mười hai) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 29/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng xốp màu trắng; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 sim điện thoại số: 0973.245.xxx
- + Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng thu của bị cáo Hợp.
- + Thu số tiền: 700.000đ của bị cáo K.000đ của bị cáo Hđược do thu lời bất chính từ việc bán pháo. (Bị cáo Htác động gia đình nộp đủ số tiền trên theo Biên lai thu số: 0002332; ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái); Bị cáo Ktác động gia đình nộp 500.000đ theo Biên lai thu số: 0002333; ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái. Bị cáo K phải nộp thêm 200.000đ vào ngân sach nhà nước.
- + Trả lại cho chị Bùi Thị N năm 1980; địa chỉ: thôn C xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninhc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC màu sơn đen, BKS 14K1-361.14 và số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002332 ngày 23/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái.
Số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 77/2024/THA ngày 17/4/2024.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Ngô Văn HTrần Văn K bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hương Lan |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo có hành vi mua trái phép 7,5kg (bảy phẩy năm ki lô gam) pháo hoa nổ, do Trung Quốc sản xuất, mục đích để bán kiếm lời. Đến 12 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, Ngô Văn Hợp đem số pháo hoa nổ trên đến khu vực đường liên thôn 3B, xã Hải Tiến, thành phố Móng Cái để bán, thì bị Công an thành phố Móng Cái phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.