TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HNGĐ - ST Ngày 17 - 6 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương
Ông Lê Thế Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tư - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phan Văn A, sinh năm 1994
- Bị đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1993
Nơi cư trú: TDP L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: TDP L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt anh A; chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phan Văn A trình bày:
Về hôn nhân: anh và chị Liên kết H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không thể hòa hợp được và không có hạnh phúc, từ đầu năm 2022 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, mỗi người mỗi nơi không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị L.
Về con chung: anh và chị L có 03 con chung là Phan Lê Ngọc T, sinh ngày 02/12/2014; Phan Lê Gia H1, sinh ngày 10/10/2016 và Phan Thanh Thảo N, sinh ngày 09/9/2019, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cả 03 con đều ở chung với anh và ông bà nội. Khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và cháu H1, giao cháu N cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai chị Lê Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh A chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không thể hòa hợp thường xuyên cải nhau và không có hạnh phúc, từ đầu năm 2022 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, mặc dù hai bên gia đình nhiều lần khuyên bảo nhưng vợ chồng không cải thiện được tình cảm, nay chị xác định tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị L và anh A có 03 con chung là Phan Lê Ngọc T, sinh ngày 02/12/2014; Phan Lê Gia H1, sinh ngày 10/10/2016 và Phan Thanh Thảo N, sinh ngày 09/9/2019. Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu T và cháu H1 cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh A. Về hôn nhân giải quyết cho anh A ly hôn chị L; Về con chung giao cháu Phan Lê Ngọc T, sinh ngày 02/12/2014; Phan Lê Gia H1, sinh ngày 10/10/2016 cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Phan Thanh Thảo N, sinh ngày 09/9/2019 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; anh A và chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét; Về tài sản chung: anh A và chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: anh A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: anh A yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa anh và chị L; chị L cư trú tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; anh A đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự; chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa anh A và chị L: Anh Phan Văn A và chị Lê Thị L chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022. Cả anh A và chị L đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Vì vậy, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa anh A và chị L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh A là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Về con chung: Chị L và anh A có 03 con chung là Phan Lê Ngọc T, sinh ngày 02/12/2014; Phan Lê Gia H1, sinh ngày 10/10/2016 và Phan Thanh Thảo N, sinh ngày 09/9/2019. Khi ly hôn anh A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và cháu H1; chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu N.
HĐXX xét thấy anh A và chị L có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con; cháu T và cháu H1 có nguyện vọng ở với bố, nếu bố mẹ ly hôn. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của anh A và chị L giao cháu T và cháu H1 cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng; cháu N còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung anh A và chị L không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
[4] Về tài sản chung: anh A và chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: anh A khởi kiện vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn A:
- Về án phí: anh Phan Văn A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003019 ngày 27/11/2024.
- Quyền kháng cáo: Anh Phan Văn A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Lê Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về hôn nhân: anh Phan Văn A được ly hôn chị Lê Thị L.
- Về con chung: Giao cháu Phan Lê Ngọc T, sinh ngày 02/12/2014 và Phan Lê Gia H1, sinh ngày 10/10/2016 cho anh Phan Văn A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Giao cháu Phan Thanh Thảo N, sinh ngày 09/9/2019 cho chị Lê Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Phan Văn A và chị Lê Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |
Bản án số 39/2025/HNGĐ - ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh A ly hôn chị L
