Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 39/2025/DS-ST

Ngày: 27-3-2025

V/v “Tranh chấp

hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bùi Thanh Hải;
  2. Lê Văn Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 27/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 520/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-DS ngày 13/02/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (S). Địa chỉ: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện hợp pháp:

    Ông Trần Ngọc H và ông Vũ Văn T; địa chỉ liên hệ: Số H T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 3105/2023/UQ-SeABank ngày 17/3/2023).

  2. Bị đơn:

    Ông Lê Văn H1, sinh năm 1979; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã M, huyện D,tỉnh Bình Dương.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân tỉnh B. Địa chỉ: Phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

    Người đại diện hợp pháp:

    Ông Nguyễn Minh H2, sinh năm 1982; địa chỉ liên hệ: Công an phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 2157/UBND-BC ngày 03/6/2024 của UBND tỉnh B).

Đại diện nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và đã có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ghi ngày 17/3/2023, quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/6/2017, ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 (Bên vay) đã ký và thực hiện Hợp đồng tín dụng số C135.17/HĐTD-TDH với Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B, cụ thể như sau:

Số tiền vay 443.000.000 đồng (bốn trăm bốn mươi ba triệu đồng); thời hạn cho vay 84 tháng tính từ ngày 16/6/2017 đến ngày đến hạn là 16/6/2024; mục đích vay: Vay mua xe ô tô; Lãi suất cho vay: Lãi suất trong hạn 6 tháng đầu tiên áp dụng lãi suất 5,25% (từ ngày 16/6/2017 đến 15/12/2017), từ tháng 7 trở đi lãi suất cho vay bằng lãi suất Việt Nam đồng (VNĐ) kỳ hạn 14 tháng của sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ đối với KHCN+Biên độ 3.5%; lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh hàng quý theo lãi suất hiện hành của S tại thời điểm điều chỉnh, trong thời hạn khoản vay bằng lãi suất VND kỳ hạn 14 tháng của sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ đối với KHCN+ biên độ 3.5%; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và được áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn/hoặc dư nợ lãi quá hạn, bằng 10% và được áp dụng đối vớ sư nợ lãi chậm trả. Thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, S đã giải ngân và ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 đã nhận nợ tổng số tiền là 443.000.000 đồng theo GNN mã REF 1716700192 ngày 16/6/2017.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Xe ô tô con nhãn hiệu Honda, số loại: City, số máy L15Z12315678, số khung: 6663HY705678, biển kiểm soát: 61A-38007, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 050530 do Phòng C Công an tỉnh B cấp cho ông Lê Văn H1 ngày 15/6/2017. Việc thế chấp đã được ông Lê Văn H1, bà Vũ Thị T1 và S ký hợp đồng thế chấp xe ô tô số C0135.17/HĐTC/SP ngày 16/6/2017. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định

Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng, ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 đã trả được 151.797.656 đồng gồm tiền gốc và lãi (tiền gốc 64.129.901 đồng, tiền lãi 87.667.755 đồng). Tạm tính đến ngày 20/12/2022, ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 còn nợ S tổng số tiền cả gốc và lãi là: Nợ gốc 378.870.099 đồng, nợ lãi 169.030.956 đồng, tổng nợ là 547.901.055 đồng.

Kể từ thời điểm khoản vay bị quá hạn, S đã nhiều lần đôn đốc, làm việc, yêu cầu khách hàng trả nợ cho S, khách hàng nhiều lần hứa hẹn nhưng không thực hiện, đến nay khách hàng bất hợp tác. Đối với tài sản bảo đảm, Ngân hàng S đã yêu cầu ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo đúng Hợp đồng thế chấp số C0135.17/HĐTC/SP ngày 16/6/2017, tuy nhiên H1 và bà T1 luôn trốn tránh nghĩa bảo đảm theo Hợp đồng, không hợp tác, cố ý không thực hiện nghĩa vụ và không bàn giao tài sản bảo đảm cho S xử lý theo đúng thỏa thuận. Bên vay đồng thời là Bên thế chấp đã vi phạm các nghĩa vụ cam kết, thỏa thuận với S theo các Hợp đồng, văn bản đã ký với S. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, căn cứ vào các điều khoản ký kết của Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp, Ngân hàng TMCP Đ kính đề nghị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xem xét giải quyết các yêu cầu như sau:

Buộc bên vay là ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 trả nợ cho S tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 20/12/2022 là 547.901.055 đồng, trong đó nợ gốc 378.870.099 đồng, nợ lãi 169.030.956 đồng.

Buộc ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số C135.17/HĐTD-TDH ngày 16/06/2017 kể từ ngày 21/12/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Kể từ ngày Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành, nếu ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau đây của khoản vay để xử lý thu hồi nợ cho S: Xe ô tô con biển số 61A-38.007, nhãn hiệu Honda, số loại City, số máy L15Z12315678, số khung 6663HY705678, biển kiểm soát 61A-38007, màu sơn đỏ, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 050530 do Phòng C Công an tỉnh B cấp cho ông Lê Văn H1 ngày 15/6/2017.

Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho S thì ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Đơn khởi kiện ghi ngày 17/3/2023; Bản sao điều lệ Ngân hàng; Bản sao giấy chứng nhận doanh nghiệp công ty cổ phần; bản sao giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án ngày 16/6/2017; bản sao đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên; bản sao Hợp đồng mua bán xe số 06346/HĐMB-TG/HBD-2017 ngày 14/6/2017; bản sao Uỷ nhiệm chi ngày 16/6/2017; Hợp đồng tín dụng từng lần số COC135.17/HĐTD-TDH ngày 16/6/2017; giấy uỷ quyền; Bản sao căn cước công dân; bản tự khai ngày 22/3/2024 của ông H; bảng tính lãi đến ngày 31/01/2024; văn bản số 4182/2023/CV-SeaBank ngày 29/3/2023;đơn yêu cầu vắng mặt ngày 26/3/2025.

Quá trình tố tụng, tại biên bản lấy lời khai ngày 13 tháng 3 năm 2024, bị đơn ông H1 trình bày:

Ông H1 với bà T1 có mối quan hệ là vợ chồng nhưng không chung sống với nhau từ cuối năm 2017 (khoảng tháng 12/2017), đến năm 2022 thì ly hôn theo quy định của pháp luật tại Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng. Hiện nay ông H1 và bà T1 không còn chung sống cùng nhau, không quan tâm đến nhau.

Ông Lê Văn H1 thừa nhận việc cùng với bà Vũ Thị T1 và Ngân hàng TMCP Đ có thoả thuận với nhau tại Hợp đồng tín dụng từng lần số C0135.17/HDTD-TDH ngày 16/6/2017. Theo đó ông H1 và bà T1 có vay của Ngân hàng số tiền 443.000.000 đồng. Mục đích là để ông H1 mua xe ô tô tại Công ty TNHH T2 có địa chỉ tại phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Ông H1 mua xe ô tô Honda City với số tiền 554.000.000 đồng, do thiếu tiền nên ông H1 cùng bà T1 vay tiền của ngân hàng TMCP Đ để có tiền trả tiền mua xe. Ông H1 là người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Để bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng, ông H1 cùng bà T1 thống nhất cùng thế chấp xe ô tô con biển số 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, số loại City, số máy 115Z12315678, số khung 666HY705678, màu đỏ cho phía Ngân hàng và được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng chứng nhận.

Sau khi mua xe, ông H1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng xe; đồng thời ông H1 cũng là người trực tiếp đứng ra trả tiền lãi của khoản vay 443.000.000 đồng cho phía Ngân hàng. Đến năm 2018, lần cuối cùng ông H1 trả tiền gốc và lãi cho phía Ngân hàng là với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Hiện nay, số tiền nợ gốc và nợ lãi giữa ông H1, bà T1 với phía Ngân hàng cụ thể là bao nhiêu tiền thì ông H1 không rõ.

Đến khoảng năm 2018, xe ô tô con biển số 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, số loại City, số máy 115Z12315678, số khung 666HY705678, màu đỏ bị Ủy ban nhân dân tỉnh B thu giữ theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động buôn bán hàng cấm đối với ông Lê Văn H1, sinh năm 1979 số 362/QĐ-XPVPHC ngày 12/02/2018 của UBND tỉnh B. Hiện nay ông H1 không còn quản lý sử dụng xe ô tô nói trên.

Nay phía Ngân hàng khởi kiện thì ông H1 đồng ý trả nợ cho Ngân hàng theo như hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do bận công việc nên ông H1 đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Chứng cứ ông H1 cung cấp: Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 13/3/2024.

Quá trình tố tụng biên bản lấy lời khai ngày 29 tháng 12 năm 2023 bị đơn bà T1 trình bày:

Bà T1 với ông H1 là vợ chồng nhưng không chung sống với nhau từ cuối năm 2017 (khoảng tháng 12/2017), đến năm 2022 thì ly hôn theo quy định của pháp luật tại Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, hiện nay không còn chung sống cùng nhau, không quan tâm đến nhau. Ông H1 vẫn cư trú tại ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; bà T1 có hộ khẩu thường trú tại Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Bà T1 thừa nhận việc cùng với ông Lê Văn H1 và Ngân hàng TMCP Đ có thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần số C0135.17/HDTD-TDH ngày 16/6/2017. Theo đó bà T1 và ông H1 vay của Ngân hàng số tiền 443.000.000 đồng. Mục đích là để ông H1 mua xe ô tô tại Công ty TNHH T2 có địa chỉ tại phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Ông H1 mua xe ô tô Honda City với số tiền 554.000.000 đồng, do thiếu tiền nên ông H1 kêu bà T1 cùng vay tiền ngân hàng để có tiền trả tiền mua xe, ông H1 là người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Để bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng thì ông H1 kêu bà T1 cùng thế chấp xe cho phía Ngân hàng và được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng chứng nhận.

Sau khi mua xe, do mâu thuẫn vợ chồng nên ông H1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng xe; đồng thời ông H1 là người trực tiếp đứng ra trả tiền lãi của khoản vay 443.000.000 đồng cho phía Ngân hàng. Đến khoảng năm 2018, ông H1 dùng xe ô tô con biển số 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, số loại City đứng tên ông H1 để vận chuyển thuốc lá nên bị Công an huyện C, tỉnh Bình Phước bắt giữ, đồng thời tịch thu xe ô tô.

Nay Ngân hàng khởi kiện thì bà T1 không đồng ý vì ông H1 là người đứng tên giấy chứng nhận đăng ký và cũng là người trực tiếp sử dụng xe ô tô biển số 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, số loại City để sử dụng. Ông H1 cũng là người vận chuyển thuốc lá để dẫn đến việc bị Công an huyện C, tỉnh Bình Phước bắt giữ, đồng thời tịch thu xe ô tô. Vì vậy, nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là của ông H1, bà T1 không đồng ý cùng ông H1 liên đới trả nợ cho phía ngân hàng. Do bận công việc (cạo mủ cao su) nên bà T1 đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Chứng cứ bà T1 cung cấp: Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 29/12/2023.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện UBND tỉnh B có ý kiến:

Đối với việc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ yêu cầu ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 thanh toán các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số C0135.17/HDTD-TDH ngày 16/6/2017 và giấy nhận nợ kèm theo kể từ ngày 21/12/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ thì UBND tỉnh B không có ý kiến.

Đối với yêu cầu phát mại tài sản là: Xe ô tô con biển số 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, số loại City, số máy 115Z12315678, số khung 666HY705678, màu đỏ, UBND tỉnh B không đồng ý, lý do: Hiện nay UBND tỉnh B đang giữ phương tiện nêu trên là phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu.

Ngày 17/01/2018, ông H1 có hành vi vi phạm hành chính và bị Công an huyện C (nay là Công an thị xã C), tỉnh Bình Phước lập Biên bản vi phạm hành chính về hành vi điều khiển xe ô tô nói trên vận chuyển 1470 bao thuốc lá hiệu Hero có xuất xứ từ nước ngoài, không dán tem nhập khẩu. Ngày 12/02/2018, UBND tỉnh B đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động buôn bán hàng cấm đối với ông Lê Văn H1, sinh năm 1972 số 362/QĐ-XPVPHC. Theo nội dung của Quyết định xử phạt hành chính nêu trên, xe ô tô con biển số 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, số loại City, số máy 115Z12315678, số khung 666HY705678 đã bị tịch thu theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 25 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 22 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ là có căn cứ theo quy định của pháp luật. Việc UBND tỉnh B ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động buôn bán hàng cấm đối với ông Lê Văn H1, sinh năm 1972 số 362/QĐ-XPVPHC ngày 12/02/2018 là đúng quy định của pháp luật. Phía UBND tỉnh B và Ngân hàng TMCP Đ cũng đã có những trao đổi, làm việc do có liên quan đến xe ô tô con biển số 61A – 38.007. Ngân hàng TMCP Đ biết rõ xe ô tô con biển số 61A – 38.007 đứng tên ông H1 bị tịch thu nhưng không khiếu nại, khởi kiện gì đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động buôn bán hàng cấm đối với ông Lê Văn H1, sinh năm 1972 số 362/QĐ-XPVPHC ngày 12/02/2018 của UBND tỉnh B. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải và mở phiên tòa đúng quy định. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa theo quy định. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết; không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm là xe ô tô biển số 61A – 38.007 đứng tên ông H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,

[1] Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa theo quy định.

[2] Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn ông H1 và bà T1 có nghĩa vụ trả số tiền tạm tính đến ngày 20/12/2022 là: Nợ gốc 378.870.099 đồng, nợ lãi169.030.956 đồng, tổng nợ là 547.901.055 đồng. Đồng thời ông H1 và bà T1 còn phải chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số C135.17/HĐTD-TDH ngày 16/6/2017 đã ký kể từ ngày 21/12/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Ông H1 và bà T1 có nơi cư trú tại xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3.1] Quá trình tố tụng, bị đơn ông H1 và bà T1 đều thừa nhận việc: Ngày 16/6/2017, nguyên đơn bà bị đơn đã ký kết Hợp đồng tín dụng số C135.17/HĐTD-TDH, theo đó bị đơn vay của nguyên đơn số tiền 443.000.000 đồng, mục đích là để ông H1 mua xe ô tô tại Công ty TNHH T2 có địa chỉ tại phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Để bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng, ông H1 cùng bà T1 thống nhất thế chấp xe ô tô con biển số 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, số loại City, số máy 115Z12315678, số khung 666HY705678, màu đỏ cho phía Ngân hàng và được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng chứng nhận. Đây là tình tiết được các bên đương sự thừa nhận, không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.2] Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2024, bị đơn ông H1 đồng ý trả nợ cho Ngân hàng theo như hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đây là ý chí tự nguyện của ông H1 nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.3] Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/12/2023 bị đơn bà T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ. Bà T1 cho rằng ông H1 là người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và cũng là người trực tiếp sử dụng xe ô tô biển số 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, số loại City. Ông H1 cũng là người vận chuyển thuốc lá để dẫn đến việc bị Công an huyện C, tỉnh Bình Phước bắt giữ, đồng thời tịch thu xe ô tô. Vì vậy, nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là của ông H1, bà T1 không đồng ý cùng ông H1 liên đới trả nợ cho phía ngân hàng. Xét thấy, bà T1 và ông H1 thừa nhận: Ngày 16/6/2017, nguyên đơn bà bị đơn đã ký kết Hợp đồng tín dụng số C135.17/HĐTD-TDH, bị đơn ông H1 và bà T1 cùng ký Giấy nhận nợ mã REF 1716700192 cùng ngày 16/6/2017, theo đó bị đơn vay của nguyên đơn số tiền 443.000.000 đồng, mục đích là để ông H1 mua xe ô tô. Xét thấy, đây là khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của ông H1 và bà T1 theo quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời khi ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 151/2022/QÐST-HNGĐ ngày 23/6/2022 của TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương thì ông H1 và T1 đều không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Vì vậy, bà T1 có nghĩa vụ chung với ông H1 về tài sản phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập.

[3.4]. Việc ông H1 và bà T1 không thanh toán tiền cho Ngân hàng TMCP Đ theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số C135.17/HĐTD-TDH ngày 16/6/2017 là vi phạm hợp đồng mà hai bên đã ký kết, vì nghĩa vụ của bên vay tiền được quy định tại các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ về việc yêu cầu bị đơn ông H1 và bà T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 20/12/2022 là 547.901.055 đồng, trong đó nợ gốc 378.870.099 đồng, nợ lãi 169.030.956 đồng. Đồng thời ông H1 và bà T1 còn phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số C135.17/HĐTD-TDH ngày 16/6/2017 kể từ ngày 21/12/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

[3.5]. Để bảo đảm cho khoản vay 443.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số C135.17/HĐTD-TDH ngày 16/6/2017, ông H1 và bà T1 đã cùng thế chấp tài sản là: Xe ô tô con nhãn hiệu Honda, số loại City, số máy L15Z12315678, số khung 6663HY705678, biển số 61A-380.07, màu sơn đỏ, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 050530 do Phòng C Công an tỉnh B cấp cho ông Lê Văn H1 ngày 15/6/2017. Việc thế chấp đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng chứng nhận ngày 16/6/2017. Tại Công văn số 909/CĐKGDBĐ-CCTT ngày 23/7/2024 của Cục Đ1 – Bộ Tư pháp thể hiện: Bên bảo đảm là ông Lê Văn H1, bà Vũ Thị T1; bên nhận bảo đảm là Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B; mô tả tài sản bảo đảm: Xe ô tô nhãn hiệu HONDA, số máy L15Z12315678, biển số đăng ký 61A-380.07, số khung 6663HY705678. Ngày 17/01/2018, ông H1 có hành vi vi phạm hành chính và bị Công an huyện C (nay là Công an thị xã C), tỉnh Bình Phước lập Biên bản vi phạm hành chính về hành vi điều khiển xe ô tô nói trên vận chuyển 1470 bao thuốc lá hiệu Hero có xuất xứ từ nước ngoài, không dán tem nhập khẩu. Ngày 12/02/2018, UBND tỉnh B đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động buôn bán hàng cấm đối với ông Lê Văn H1, sinh năm 1972 số 362/QĐ-XPVPHC. Theo nội dung của Quyết định xử phạt hành chính nêu trên, xe ô tô biển kiểm soát 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, loại xe ô tô con, số loại City, màu sơn đỏ, số máy 115Z12315678, số khung 666HY705678 đã bị tịch thu theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 25 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 22 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ. Tại mục 3.3 và 3.5 Điều 3 của Hợp đồng tín dụng số C135.17/HĐTD-TDH ngày 16/6/2017 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 có ghi: “Ngoài tài sản bảo đảm được nêu tại phần A Hợp đồng này, bên được cấp tín dụng cam kết dùng toàn bộ tài sản hợp pháp khác của mình làm tài sản bảo đảm cho toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ vay tại S; Nếu tài sản bảo đảm bị mất mát, tịch thu, bị trưng mua, hư hỏng, suy giảm giá trị... hoặc có sự biến động về tỷ giá ngoại tệ/giá mua bán vàng dẫn đến việc không còn đủ giá trị để bảo đảm cho khoản vay theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng bảo đảm thì ngân hàng có quyền: Không giải ngân tiếp hoặc yêu cầu bên được cấp tín dụng bổ sung tài sản bảo đảm hoặc thu hồi nợ trước hạn cho đến khi tỷ lệ giữa dư nợ thực tế và giá trị tài sản bảo đảm phù hợp với thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng bảo đảm....”. Như vậy, trường hợp này tài sản bảo đảm là xe ô tô biển kiểm soát 61A – 38.007, nhãn hiệu Honda, loại xe ô tô con, số loại City, số máy 115Z12315678, số khung 666HY705678 đã bị tịch thu, Ngân hàng có quyền căn cứ vào mục 3.5 của Hợp đồng tín dụng từng lần số C0135.17/HĐTD-TDH để xử lý theo thỏa thuận. Đồng thời, phía Ngân hàng có biết được nội dung của Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động buôn bán hàng cấm đối với ông Lê Văn H1, sinh năm 1972 số 362/QĐ-XPVPHC ngày 12/02/2018 của UBND tỉnh B, có Công văn số 4182/2023/CV-SeABank ngày 29/3/2023 gửi UBND tỉnh B nhưng không khiếu nại hay khởi kiện gì đối với quyết định nêu trên. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 về việc nếu ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Xe ô tô con biển số 61A-38.007, nhãn hiệu Honda, số loại: City, số máy L15Z12315678, số khung: 6663HY705678, biển kiểm soát: 61A-38007, màu sơn đỏ, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 050530 do Phòng C Công an tỉnh B cấp cho ông Lê Văn H1 ngày 15/6/2017 là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Ý kiến của bị đơn ông H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND tỉnh B là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Ý kiến của bị đơn bà T1 là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về phần các thủ tục tố tụng, diễn biến tại phiên tòa và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị đơn ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 229, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 317, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 91, 94, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.

Căn điểm b khoản 4 Điều 25 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 22 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (S) đối với ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1.

    Buộc ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (S) số tiền tạm tính đến ngày 20/12/2022 là 547.901.055 đồng (năm trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm lẻ một nghìn không trăm năm mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc 378.870.099 đồng (ba trăm bảy mươi tám triệu tám trăm bảy mươi nghìn không trăm chín mươi chín đồng), nợ lãi 169.030.956 đồng (một trăm sáu mươi chín triệu không trăm ba mươi nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng).

    Kể từ ngày 21/12/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (S) các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số C0135.17/HĐTD-TDH ngày 16/6/2017.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (S) đối với ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 về việc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (S) có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để xử lý thu hồi nợ, cụ thể: Xe ô tô con biển số 61A-38.007, nhãn hiệu Honda, số loại: City, số máy L15Z12315678, số khung 6663HY705678, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 61A-38007.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Lê Văn H1 và bà Vũ Thị T1 phải liên đới chịu số tiền 25.916.042 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm bốn mươi hai đồng).
    2. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (S) số tiền 12.958.021 đồng (mười hai triệu chín trăm năm mươi tám nghìn không trăm hai mươi mốt đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0009488 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
  4. Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CC THA DS huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Hữu Bình

Trần Văn Tùng

Nguyễn Thị Kim Phi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/DS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 39/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng ĐNA, H và T. Hợp dồng d tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger