Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 39/2025/DS-ST

Ngày: 26-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Bơ

Bà Trần Thị Chiếm

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Chăm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 572/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm

Địa chỉ trụ sở: Số A đường C, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Văn T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn Đ; Chức vụ: Tổ trưởng tín dụng – Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm chi nhánh T2 (Theo Giấy ủy quyền số 1182/GUQ-CEPTA ngày 25/12/2024) (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng X, sinh năm 1988

Địa chỉ: Số B Ấp A, xã H, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thành T1, sinh năm 1984

Địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố T, tỉnh Long An (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 10 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm do ông Nguyễn Văn Đồng đại D trình bày:

Bà Nguyễn Thị Hoàng X có ký với Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (sau đây gọi tắt là: Tổ chức tài chính vi mô CEP) Hợp đồng vay ngày 30/8/2022, số tiền vay là 20.000.000đ, lãi suất 0.34%/2tuần/vốn vay ban đầu, thời hạn vay: 40 tuần, phương thức trả là trả vốn và lãi hàng tuần; tổng lãi mà bà X phải trả sau 40 tuần là 1.360.000đ. Như vậy tổng số tiền vốn và lãi bà X phải trả cho Tổ chức tài chính vi mô CEP là 21.360.000đ. Từ ngày 12/9/2022 đến ngày 12/6/2024 bà X đã trả cho Tổ chức tài chính vi mô CEP số tiền gốc và lãi là 13.007.203đ. Tính đến nay bà X còn nợ Tổ chức tài chính vi mô CEP số tiền 8.352.797đ, trong đó nợ gốc là 7.740.797đ và nợ lãi là 612.000đ. Hiện tại đã qua ngày tất toán theo Hợp đồng vay vốn nhưng bà X không hoàn trả nợ đúng theo thoả thuận trong Hợp đồng.

Nay Tổ chức tài chính vi mô CEP yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Hoàng X phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Tổ chức tài chính vi mô CEP toàn bộ nợ gốc và lãi vay là 8.352.797đ (Tám triệu ba trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 7.740.797đ (Bảy triệu bảy trăm bốn mươi ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng) và nợ lãi là 612.000đ (Sáu trăm mười hai nghìn đồng), phương thức trả nợ là trả một lần.

Tổ chức tài chính vi mô CEP rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông Lê Thành T1 liên đới với bà Nguyễn Thị Hoàng X thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Tổ chức tài chính vi mô CEP toàn bộ nợ gốc và lãi vay là 8.352.797đ.

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thành T1 trình bày ý kiến tại bản tự khai nội dung vụ việc ngày 09 tháng 01 năm 2025: Ông Lê Thành T1 không có ký vào tờ cam kết bảo lãnh nên không đồng ý liên đới trả khoản vay với bà X. Ông T1 có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt ông.

Ngày 10/02/2025, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ hợp đồng vay giữa Tổ chức tài chính vi mô CEP với bà Nguyễn Thị Hoàng X có chữ ký bà X và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, xác định bà X có vay Tổ chức tài chính vi mô CEP tổng số tiền là 20.000.000đ.

Trong thời gian thực hiện hợp đồng vay, bà X đã nhận đủ tiền số tiền vay là 20.000.000 đồng. Sau khi vay tiền, bà X trả cho Tổ chức tài chính vi mô CEP Từ ngày 12/9/2022 đến ngày 12/6/2024 bà X đã trả cho Tổ chức tài chính vi mô CEP số tiền gốc và lãi là 13.007.203đ. Tính đến nay bà X còn nợ Tổ chức tài chính vi mô CEP số tiền 8.352.797đ, trong đó nợ gốc là 7.740.797đ và nợ lãi là 612.000đ. Phía Tổ chức tài chính vi mô CEP có cung cấp danh sách cho vay có chữ ký nhận tiền của bà X và Giấy báo nợ thể hiện khoản tiền bà X đã thanh toán. Phía bà X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà X không đến Tòa cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Tổ chức tài chính vi mô CEP cho thấy bà X đã từ bỏ quyền chứng minh theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kể từ sau ngày 12/6/2024, bà X không trả cho Tổ chức tài chính vi mô CEP bất kỳ khoản tiền nào nữa. Xét thấy, bà X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 6 Hợp đồng vay, vi phạm quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự. Do vậy, Tổ chức tài chính vi mô CEP khởi kiện yêu cầu bà X phải có trách nhiệm trả số tiền còn nợ lại tính đến thời điểm tất toán khoản vay là 8.352.797đ (Tám triệu ba trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 7.740.797đ (Bảy triệu bảy trăm bốn mươi ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng) và nợ lãi là 612.000đ (Sáu trăm mười hai nghìn đồng) có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Tổ chức tài chính vi mô CEP có đơn khởi kiện tranh chấp đối với bà Nguyễn Thị Hoàng X về yêu cầu trả số nợ vay trong hợp đồng vay tài sản. Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng X đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt. Trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Thành T1 có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về số nợ vay: Theo Hợp đồng vay vốn ngày 30/8/2022 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: vào ngày 30 tháng 8 năm 2022, bà Nguyễn Thị Hoàng X có vay Tổ chức tài chính vi mô CEP – Chi nhánh T2 tổng số tiền 20.000.000đ. Hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi, thời hạn vay là 40 tuần; phương thức trả là trả vốn và lãi hàng tuần; tổng lãi mà bà X phải trả sau 40 tuần là 1.360.000đ; tổng số tiền vốn và lãi bà X phải trả cho Tổ chức tài chính vi mô CEP là 21.360.000đ. Tổ chức tài chính vi mô CEP đã giải ngân đầy đủ số tiền vay 20.000.000đ cho bà Nguyễn Thị Hoàng X.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Hoàng X đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng vay vốn, nên các khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn. Đến nay đã hết thời hạn tất toán khoản vay theo thoả thuận trong Hợp đồng vay vốn ngày 30/8/2022 (ngày thoả thuận tất toán là 05/6/2023) bà X còn nợ Tổ chức tài chính vi mô CEP tổng số tiền là 8.352.797đ (Tám triệu ba trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 7.740.797đ (Bảy triệu bảy trăm bốn mươi ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng) và nợ lãi là 612.000đ (Sáu trăm mười hai nghìn đồng).

Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định cho bà X thể hiện việc Tổ chức tài chính vi mô CEP khởi kiện nhưng bà Xa vắng M và không có ý kiến, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với Tổ chức tài chính vi mô CEP.

Do bà X vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản nên yêu cầu khởi kiện của Tổ chức tài chính vi mô CEP là có căn cứ, buộc bà X có nghĩa vụ trả cho Tổ chức tài chính vi mô CEP tổng số tiền là 8.352.797đ (Tám triệu ba trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 7.740.797đ (Bảy triệu bảy trăm bốn mươi ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng) và nợ lãi là 612.000đ (Sáu trăm mười hai nghìn đồng) theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.2] Trong quá trình tố tụng, Tổ chức tài chính vi mô CEP rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông Lê Thành T1 liên đới với bà Nguyễn Thị Hoàng X thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Tổ chức tài chính vi mô CEP toàn bộ nợ gốc và lãi vay là 8.352.797đ (Tám triệu ba trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng). Căn cứ vào Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ đối với phần yêu cầu mà nguyên đơn đã rút.

[3] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

[4] Về án phí: Tổ chức tài chính vi mô CEP yêu cầu bà Nguyễn Thị Hoàng X có nghĩa vụ trả số tiền nợ được Tòa án chấp nhận, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Hoàng X phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với mức thu là 417.640đ (Bốn trăm mười bảy ngàn sáu trăm bốn mươi đồng). Tổ chức tài chính vi mô CEP không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 470 và Điều 299, Điều 317, Điều 318 và Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm về tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Nguyễn Thị Hoàng X.

    Buộc bà Nguyễn Thị Hoàng X có nghĩa vụ trả cho Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm số nợ vay gốc là 7.740.797đ (Bảy triệu bảy trăm bốn mươi ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng) và nợ lãi là 612.000đ (Sáu trăm mười hai nghìn đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 8.352.797đ (Tám triệu ba trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng).

  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm về việc yêu cầu ông Lê Thành T1 liên đới với bà Nguyễn Thị Hoàng X thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Tổ chức tài chính vi mô CEP toàn bộ nợ gốc và lãi vay là 8.352.797đ (Tám triệu ba trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng).
  3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày 26/3/2025 bà Nguyễn Thị Hoàng X còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  4. Về án phí: bà Nguyễn Thị Hoàng X có nghĩa vụ chịu 417.640đ (Bốn trăm mười bảy ngàn sáu trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001045 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.

  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh LA;
  • - VKSND TΡΤΑ;
  • - Các đương sự;
  • - CCTHA;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Tuyến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Lợi

Lê Thị Đông

Đặng Thị Cẩm Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 39/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm về tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Nguyễn Thị Hoàng Xa.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger