|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HS-ST
Ngày 25-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Đông.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Đức Khoa
Ông Võ Trung Thành
- Thư ký phiên toà:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Phạm Thị Nguyên, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Phạm Thị Phương T, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Trần Trung Tín - Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Hoàng H – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Ngọc T1, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1969 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TK53/43 V, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: T V, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình H1 (đã chết) và bà Trần Thị L (sinh năm 1950); có chồng là Nguyễn Hữu P (đã chết) và chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 25/02/1988, bị Công an Q bắt về hành vi “Cướp giật tài sản công dân”. Ngày 02/3/1988, bị đưa đi cưỡng bức lao động 18 tháng.
- - Ngày 02/8/1998, bị Công an Q bắt về hành vi “Trốn khỏi nơi giam”. Đến ngày 16/8/1988, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H ra quyết định đưa đi cưỡng bức lao động 12 tháng;
- - Ngày 24/10/1998, bị Công an Q bắt về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 26/6/1999, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù (theo bản số 1283/HSST ngày 26/6/1999). Ngày 24/10/2001, chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 09/7/2024 cho đến nay. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Trọng H2, sinh năm 1970; địa chỉ: 4 G, Phường C, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Thái H3, sinh năm 1975; địa chỉ: Căn hộ C Vinhome C, B N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Ông Ngô Ngọc T2, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: 4 T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: G Y, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Ông Hoàng Tiến C, sinh năm 1993; địa chỉ: A D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Ông Lê Hồng L1, sinh năm 2000; địa chỉ: A, E V, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/07/2024, tổ tuần tra Công an Quận 1 gồm các anh Trần Hữu P1, Nguyễn Chi L2 khi tuần tra đến trước nhà số F đường V, phường C, Quận A thì phát hiện Nguyễn Trọng H2 đang điều khiển xe mô tô biển số 52M1-5277 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên yêu cầu về trụ sở Công an phường C để kiểm tra. Tại Công an phường C, có sự chứng kiến của anh Lê Hoàng Tân T3 (An ninh cơ sở phường C), kiểm tra phát hiện thu giữ trên tay trái của H2 đang cầm 01 đoạn ống nhựa chứa bột, H2 khai là ma túy mua để sử dụng cho bản thân nên tổ tuần tra đã bàn giao H2 cùng vật chứng cho Công an phường C lập hồ sơ xử lý.
Theo Kết luận giám định số 8232/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Trọng H2 và hình dấu Công an phường C, Quận A, bên trong có 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0833 gam, loại Heroine.
Khoảng 12 giờ 05 phút cùng ngày, tổ tuần tra Công an Quận 1 gồm các anh Trần Hữu P1, Nguyễn Chi P2 khi tuần tra đến trạm xe buýt trước hẻm S đường T, phường C, Quận A thì phát hiện Nguyễn Thái H3 đang ngồi tại đây có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên yêu cầu về trụ sở Công an phường C để kiểm tra làm rõ. Tại Công an phường C, có sự chứng kiến của anh Lê Vĩnh L3 (An ninh cơ sở phường C), kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của H3 đang mặc có 01 đoạn ống nhựa chứa bột, H3 khai là ma túy mua để sử dụng cho bản thân nên tổ công tác đã bàn giao Hòa cùng vật chứng cho Công an phường C lập hồ sơ xử lý.
Theo Kết luận giám định số 8234/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thái H3 và hình dấu Công an phường C, Quận A, bên trong có 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0685 gam, loại Heroine.
Qua làm việc, cả hai đối tượng Nguyễn Trọng H2 và Nguyễn Thái H3 đều khai nhận mua ma túy H4 (chứa trong đoạn ống nhựa) của một người phụ nữ khoảng 55 tuổi, cao khoảng 1,50 mét, lưng bị gù, nói giọng miền N trong hẻm T đường V, phường C, Quận A.
Qua truy xét đến khoảng 20 giờ 15 phút ngày 09/07/2024, tổ công tác Công an Q gồm các anh Ngô Ngọc T2, Hoàng Tiến C, Lê Hồng L1 tiến hành kiểm tra hành chính lầu 2, nhà số T V, phường C, Quận A phát hiện Trần Ngọc T1 có đặc điểm giống mô tả của H3 và H2. Qua làm việc, T1 thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy và tự giao nộp 01 túi nylon màu đen bên trong có: 01 bật lửa (hột quẹt ga), 01 dao lam, 03 vỏ đoạn ống nhựa và 01 gói nylon chứa bột. Đồng thời, T1 còn chỉ nơi giấu ma túy trên mái nhà của nhà số T (sát cạnh nhà T1). Tổ công tác đã kiểm tra phát hiện thu giữ trên mái nhà TK53/44 01 gói nylon đựng 40 đoạn ống nhựa chứa bột, T1 khai tất cả đều là ma túy nên tổ công tác đã bắt giữ T1 và thu giữ vật chứng giao cho Công an phường C, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Theo Kết luận giám định số 8309/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 02 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Ngọc T1 và hình dấu Công an phường C, Quận A, bên trong có:
- - Gói 1: 01 gói nylon chứa 40 đoạn ống nhựa chứa bột (ký hiệu mẫu m₁) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,4983 gam loại Heroine.
- - Gói 2: 01 gói nylon màu đen chứa 01 gói nylon chứa bột (ký hiệu mẫu m₂) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 21,3643 gam loại Heroine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Ngọc T1 khai khoảng tháng 4/2024, thông qua bạn bè xã hội, T1 biết khu B phường P, Quận A có người phụ nữ tên bà N (không rõ lai lịch) bán ma túy nên đã nhiều lần tìm đến đây hỏi mua ma túy Heroine để sử dụng. Đến đầu tháng 7/2024, do cần tiền tiêu xài và mua thuốc chữa bệnh nên T1 nảy sinh ý định mua ma túy của bà N để bán lại cho người nghiện hưởng lợi tại khu vực trước nhà TK53/43 đường V, phường C, Quận A. Ngày 07/07/2024, T1 đi xe ôm đến gặp bà N mua 05 cục H5 với giá 15.000.000 đồng (3.000.000 đồng/01 cục), T1 đưa tiền mặt rồi đem ma túy về chỗ ở tại lầu 2 nhà sổ T đường V, phường C, Quận A. Tại đây, T1 lấy ra 01 cục Heroine dùng dao lam, ống hút nhựa, bật lửa phân thành 44 tép (đoạn ống nhựa chứa Heroine) để bán cho người nghiện với giá 100.000 đồng/01 tép, bán hết 44 tép Heroine sẽ thu được 4.400.000 đồng, hưởng lợi được 1.400.000 đồng/01 cục H5, nếu bán hết 05 cục H5 sẽ hưởng lợi được khoảng 7.000.000 đồng. Trong ngày 08/7/2024, T1 đã bán cho Nguyễn Trọng H2 01 tép Heroine, Nguyễn Thái H3 01 tép Heroine và 01 người đàn ông không rõ lai lịch 02 tép Heroine. Ngày 09/07/2024, T1 chưa bán được cho ai thì bị Công an kiểm tra thu giữ số ma túy còn lại gồm 40 tép Heroine và 01 gói nylon chứa 04 cục Heroine. Lời khai của Trần Ngọc T1 phù hợp với lời khai của Nguyễn Trọng H2, Nguyễn Thái H3, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được.
Đối với đối tượng tên bà N có hành vi bán ma túy cho Trần Ngọc T1, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Trọng H2, Nguyễn Thái H3 có hành vi mua ma túy của Trần Ngọc T1 để sử dụng tuy nhiên khối lượng ma túy thu giữ không đủ để xử lý hình sự. Đồng thời H2, H3 không có tiền án, tiền sự liên quan đến các hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt trái phép chất ma túy nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với H2, H3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ sở.
* Vật chứng vụ án:
- - 02 (hai) gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký tên Giám định viên Bùi Công D và cán bộ điều tra Nguyễn Hoàng N1 có ghi vụ số 2555/24 G1 và 2555/24 G2, bên trong chứa 23,2263 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định (ma túy thu giữ của Trần Ngọc T1).
- - 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 0,0575 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định (thu giữ của Nguyễn Trọng H2), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- - 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 0,0457 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định (thu giữ của Nguyễn Thái H3), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
* Thu giữ của Trần Ngọc T1:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số imei: 352351/06/878335/7 (là điện thoại T1 sử dụng liên lạc cá nhân).
- - 01 (một) bộ quần áo có họa tiết màu nâu, trắng;
- - 01 (một) hộp quẹt; 01 (một) dao lam; 03 (ba) vỏ đoạn ống nhựa.
Tất cả các vật chứng trên hiện được Công an Q tạm giữ theo Phiếu nhập kho vật chứng số 239/2024/PNK-THADS ngày 05/8/2024.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSQ1 ngày 07/02/2025 và tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Ngọc T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Trần Ngọc T1 từ 10 năm đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung phạt bị cáo Trần Ngọc T1 số tiền 20.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Bị cáo Trần Ngọc T1 khai: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, số tiền 15.000.000 đồng mà bị cáo mua ma túy là tiền tích góp được do đi làm thuê. Sau khi mua ma túy, bị cáo đã bán được 4 tép Heroine với tổng số tiền 400.000 đồng. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng, không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội về chăm sóc cho mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Ngọc T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 08/7/2024, tại nhà số T V, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Trần Ngọc T1 đã có hành vi cất giữ 23,8626 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán lại cho người nghiện; thêm vào đó bị cáo đã bán cho Nguyễn Trọng H2 0,0833 gam ma túy loại Heroine và Nguyễn Thái H3 0,0685 gam ma túy loại Heroine; tổng khối lượng là 24,0144 gam ma túy loại Heroine. Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Ngọc T1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với 02 tình tiết định khung là “phạm tội 02 lần trở lên” và “Heroine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” theo quy định tại điểm b và i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, là chất độc dược ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng cũng như là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.
[5] Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi vẫn cố ý phạm tội đã thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, tương xứng để răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định mức hình phạt phù hợp.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu.
[8] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt về hành vi “Cướp giật tài sản công dân”, “Trốn khỏi nơi giam” và “Mua bán trái phép chất ma túy” và nhưng sau khi chấp hành hình phạt, bị cáo vẫn không tự rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét án ma túy tính có chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn các loại tội phạm khác nên cần phải răn đe, ngăn ngừa tội phạm. Do đó, cần phải phạt thêm hình phạt bổ sung để bị cáo có ý thức chấp hành án, không tái phạm theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức phạt tiền hợp lý để bị cáo có thể chấp hành đầy đủ hình phạt chính và hình phạt bổ sung nhằm mục đích thể hiện tính nghiêm minh của bản án.
[10] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số tiền 400.000 đồng mà bị cáo T1 thừa nhận có được do bán ma túy là tài sản do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại số tiền này để bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- - Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy: 02 (hai) gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký tên Giám định viên Bùi Công D và cán bộ điều tra Nguyễn Hoàng N1 có ghi vụ số 2555/24 G1 và 2555/24 G2, bên trong chứa 23,2263 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định (ma túy thu giữ của Trần Ngọc T1), 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 0,0575 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định (thu giữ của Nguyễn Trọng H2), 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 0,0457 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định (thu giữ của Nguyễn Thái H3).
- - 01 (một) hộp quẹt; 01 (một) dao lam; 03 (ba) vỏ đoạn ống nhựa là công cụ hỗ trợ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 (một) bộ quần áo có họa tiết màu nâu, trắng là trang phục bị cáo mặc; xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số imei: 352351/06/878335/7 xét là điện thoại T1 sử dụng liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[11] Đối với người tên N (không rõ lai lịch) bán ma túy cho T1, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
[12] Đối với Nguyễn Trọng H2 và Nguyễn Thái H3 có hành vi mua ma túy của bị cáo T1 để sử dụng. Xét khối lượng ma túy thu giữ không đủ để xử lý hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có cơ sở.
[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[14] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 về việc xử phạt bị cáo T1 với mức án từ 10 năm đến 11 năm tù là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm b và i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T1 11 (mười một) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 09 tháng 7 năm 2024.
- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Trần Ngọc T1 5.000.000 (năm triệu) đồng.
- - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký tên Giám định viên Bùi Công D và cán bộ điều tra Nguyễn Hoàng N1 có ghi vụ số 2555/24 G1 và 2555/24 G2, bên trong chứa 23,2263 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định (ma túy thu giữ của Trần Ngọc T1), 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 0,0575 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định (thu giữ của Nguyễn Trọng H2), 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 0,0457 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định (thu giữ của Nguyễn Thái H3); 01 (một) bộ quần áo có họa tiết màu nâu, trắng; 01 (một) hộp quẹt; 01 (một) dao lam; 03 (ba) vỏ đoạn ống nhựa.
- + Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc T1 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số imei: 352351/06/878335/7.
- (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 239/2024/PNK-THAHS ngày 05/8/2024)
- + Buộc bị cáo Trần Ngọc T1 nộp lại số tiền 400.000 để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- - Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Bị cáo Trần Ngọc T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- - Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Bị cáo Trần Ngọc T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thế Đông |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích bán lại; đồng thời đã bán được 02 người nghiện.
