Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NINH HOÀ

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/3/2025.

V/v: “Ly hôn, Tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh Huyền

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Tha

Bà Nguyễn Thị Xuân Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 662/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/11/2024 về tranh chấp: “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/02/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 25/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06/3/2025 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm: 1986

Địa chỉ: Thôn H, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Ông Phan Văn L, sinh năm: 1985

Địa chỉ: Thôn H, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày: Bà và ông Phan Văn L đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã N. Trong quá trình chung sống ông bà thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm đến danh dự và lòng tự trọng của nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn trầm trọng, mặc dù bà đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không được. Đến nay ông bà đã không còn sống chung. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà H đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.

Về con chung: Ông bà có hai con chung là các cháu Phan Nhật Tường V, sinh ngày 14/12/2006 và Phan Nhật Tường V1, sinh ngày 11/5/2011. Cháu V đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Sau khi ly hôn bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu V1 và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

2

Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Theo lời trình bày của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án: Ông và bà Nguyễn Thị Thanh H đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã N. Quá trình chung sống, do tính tình không hợp nên giữa ông và bà H nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất hoà, cãi vã, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Ông bà đã không còn sống chung từ tháng 8/2024. Tuy nhiên nay đối với yêu cầu ly hôn của bà H, ông không đồng ý vì muốn giữ gia đình trọn vẹn cho con.

Về con chung: Ông bà có hai con chung là cháu Phan Nhật Tường V, sinh ngày 14/12/2006 và Phan Nhật Tường V1, sinh ngày 11/5/2011. Nếu Toà án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
  • - Về nội dung vụ án:
  • + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H cho bà H được ly hôn với ông L.
  • + Về con chung: Cháu Phan Nhật Tường V, sinh ngày 14/12/2006 đã trưởng thành. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phan Nhật Tường V1, sinh ngày 11/5/2011 cho bà Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông L không cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: Bà H, ông L không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • + Về án phí: Bà H phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về quan hệ hôn nhân gia đình về ly hôn, con chung vì vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm.

- Bị đơn hiện đang cư trú tại thôn H, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa theo quy

3

định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Phan Văn L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Phan Văn L tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 42, ngày 11/11/2005 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Lời trình bày của các đương sự đều thể hiện trong quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc vì thế không còn sống chung từ tháng 8/2024 đến nay. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Phan Văn L không đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà H, tuy nhiên ông L không đưa ra được phương án giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L tự ý bỏ về, không có thiện chí hoà giải, vì thế Hội đồng xét xử có căn cứ cho rằng ông L không muốn tiếp tục mối quan hệ vợ chồng với bà H. Có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Phan Văn L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được do các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, việc Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Phan Văn L có hai con chung là các cháu Phan Nhật Tường V, sinh ngày 14/12/2006 và Phan Nhật Tường V1, sinh ngày 11/5/2011. Cháu V đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xét. Sau khi ly hôn, bà H và ông L đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V1 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Hội đồng xét xử xét thấy cháu V1 là con gái, hiện nay cháu đang ở với bà H, được bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu V1 mặc dù bị khiếm khuyết nghe, nói nhưng trong quá trình làm việc với Toà án, cháu V1 đã thể hiện ý chí được tiếp tục ở với bà H sau khi bà H và ông L ly hôn. Căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu V1 cho bà H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.

Bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

4

2.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[5] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H.
    • - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn ông Phan Văn L.
    • - Về con chung: Cháu Phan Nhật Tường V, sinh ngày 14/12/2006 đã trưởng thành. Giao cháu Phan Nhật Tường V1, sinh ngày 11/5/2011 cho bà Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông L không cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.
    • Ông Phan Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
    • Vì lợi ích của con khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
    • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Phan Văn L không yêu cầu nên không xem xét.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006333 ngày 29/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà Nguyễn Thị Thanh H đã nộp đủ án phí.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
  4. 5

    án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thị xã Ninh Hòa;
  • - UBND xã Ninh Phú (GCNKH
  • số 42 ngày 11/11/2005);
  • - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HOÀ, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HOÀ, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger