|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày: 20-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Anh Tuấn
Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Hào
2. Ông Trần Trọng Đại
3. Ông Dương Mạnh Tuân
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Kim Phượng và bà Nguyễn Như Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Ngọc Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Văn B, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện nay: tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1945 trú tại: tổ C, ấp V, xã V, C, Kiên Giang; Họ tên mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1947 (đã chết); Gia đình có 9 anh em, bị cáo là con thứ 03; Họ và tên vợ: Huỳnh Thị N1, sinh năm 1976, có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2007; Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 14/10/2024 đến ngày 23/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N. (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Ông Chu Tuấn H – Văn phòng L2 – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh N. (Có mặt).
* Bị hại: Anh Lê Văn P, sinh năm 1983 (đã chết); người đại diện hợp pháp thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm 1950 là bố đẻ của anh P; Người đại diện của ông T: Anh Trần Văn Ú, sinh năm 1991, trú tại: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang. có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 10/2024, Huỳnh Văn B, sinh năm: 1970, trú tại: ấp V, xã V, huyện C, Kiên Giang và anh Lê Văn P, sinh năm: 1983, trú tại: khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang đến thuê trọ cùng anh Lê Văn C, sinh năm: 1979, trú tại: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang tại căn nhà cấp 4 của bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1961, trú tại: tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định để làm việc cho tàu cá của anh Đặng Văn O, sinh năm: 1977, trú tại: xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Tối ngày 13/10/2024, B ăn cơm tối tại tàu cá của anh O neo đậu tại cảng cá “Chính V” thuộc tổ B thị trấn T. Khoảng 19 giờ cùng ngày, anh C gọi điện thoại rủ B về nhà trọ ăn nhậu. Sau đó, B đi về nhà trọ thấy anh C, anh P và anh Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1998, trú tại: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng đang ngồi ăn và uống rượu, bia. Trong quá trình ăn uống, 04 người nêu trên không xảy ra mâu thuẫn, xô xát gì.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, B không ngồi ăn nhậu nữa mà đi vào trong nhà nằm ở võng, thời điểm này anh C định lấy xe máy đi mua thêm đồ ăn về uống rượu, bia thì anh H2 cầm lấy chìa khóa xe máy và nói: “Anh say rồi không được lái xe đi đâu nữa”, anh C trả lời: “Mày không cho tao đi, tao đốt xe cho mày xem”. Thấy vậy, anh P nói với anh H2: “Sao mày không đưa chìa khóa cho nó, mày lấy chìa khóa của nó để làm gì?”. C lấy rác ở gần đó để làm “mồi” định đốt xe máy thì anh H2 chạy đến giằng co chiếc bật lửa anh C đang cầm trên tay. Anh P liền chạy đến ôm, kéo anh H2 ra ngoài, sau đó anh C đi ra nằm trên chiếc võng ở ngoài hè. Anh P nói với anh H2: “Mày có đưa trả chìa khóa cho nó không?”, anh H2 trả lời: “Không”. Anh P lao đến dùng chân, tay đánh anh H2 làm anh H2 bỏ chạy ra phía ngoài đường. B đứng ở trong nhà nhìn thấy anh P đuổi đánh anh H2 nên nói với anh P: “Mày uýnh nó làm gì, nó kéo anh em lên uýnh anh em mình chết”, B đi ra dọn dẹp đồ ăn ở sân mang vào trong nhà bếp. Khi B đi đến chạn bát trong bếp thì anh P đi đến đứng đằng sau, dùng chân đạp 01 phát trúng vào hông bên phải B làm Bi bị ngã. B đứng dậy nói với anh P: “Tại sao mày uýnh tao?”, anh P trả lời: “Tôi là đại ca ở Nam Định này, ai dám làm gì tôi”. Sau đó anh P tiếp tục dùng chân, tay xông vào đấm, đạp vào người B. Bi thấy 01 con dao bằng kim loại (dài 21,5cm; phần lưỡi bằng kim loại dài 11,5cm, bản rộng nhất 02cm, có một đầu nhọn, một cạnh sắc; phần cán bằng nhựa màu vàng có chữ “JIN LI") ở trên chạn bát, B chạy lại vồ lấy làm hung khí để đánh nhau với anh P. Thấy vậy, P cũng chạy đến chạn bát lấy 01 chiếc kéo bằng kim loại cầm trên tay trái thì bị B cầm dao ở tay phải đâm 01 phát trúng vào vùng bụng phải của anh P làm rách da chảy máu. Anh P dùng tay ôm bụng bỏ chạy ra phía cửa thì B đâm tiếp 01 phát theo hướng từ trên xuống trúng vào vai phải của anh P. Khi anh P bỏ chạy ra đến khu vực hiên nhà trọ thì ngã gục xuống đất, thấy vậy Huỳnh Văn B bỏ chạy ra phía đường nhựa đến trước cửa nhà bà H1 thì vứt con dao là hung khí gây án tại bụi chuối trong vườn nhà anh Lê Văn Đ, sinh năm: 1985, trú tại: tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định (đối diện nhà bà H1) rồi bỏ chạy ra phía chợ “Chiều” thị trấn T (BL: 69 - 82; 123 - 138).
Nghe thấy tiếng cãi chửi nhau bên nhà trọ, anh Trần Văn T1, sinh năm: 1982, trú tại: tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định là con trai bà H1 (chủ nhà trọ) từ trong nhà chạy sang xem có chuyện gì. Khi anh T1 đi vào trong ngõ nhà trọ của anh C thì gặp B bỏ chạy từ trong nhà trọ anh C đi ra hướng về phía đường nhựa. Anh T1 đi vào trong sân nhà trọ thì nhìn thấy anh P nằm gục ở hiên nhà, ruột bị lòi ra ngoài, tay trái anh P đang cầm 01 cái kéo bằng kim loại . Anh T1 đến gần anh P hỏi có chuyện gì xảy ra thì anh P trả lời: “Bi nó chọc tao rồi”. Sau đó anh T1 hô hoán để mọi người xung quanh đến giúp đỡ, đưa anh P đi cấp cứu tại Trạm y tế thị trấn T. Tại đây, nhân viên y tế thăm khám, xác định anh P đã hôn mê, có nguy cơ tử vong cao nên đã yêu cầu chuyển ngay đến Bệnh viện Đa khoa huyện H cấp cứu. Sau đó, anh P tiếp tục được đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện H nhưng do thương tích nặng anh P đã tử vong trên đường đưa đi cấp cứu (BL: 09 - 10).
Hồi 16h20' ngày 14/10/2024, B đã đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Cơ quan điều tra đã ghi lời khai của những người làm chứng gồm anh Lê Văn C và anh Trần Văn T1. Tại cơ quan điều tra, anh C và anh T1 đã trình bày nội dung sự việc như nêu ở trên (BL: 162 - 165; 168 - 172).
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo của quần chúng nhân dân về vụ việc nêu trên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và các Cơ quan chức năng thành lập đoàn khám nghiệm tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu giữ các mẫu vật, đồ vật có liên quan.
- Khám nghiệm hiện trường (BL 7- 8):
- Khám nghiệm tử thi (BL 9 – 10):
- Hiện trường vụ án là nhà bà Nguyễn Thị H1 hiện cho anh Lê Văn C thuê. Nhà có gian nhà ở 01 tầng, lợp mái ngói, mặt chính quay hướng N. Tiếp giáp phía Nam gian nhà là sân X – Măng kích thước (KT) (10 x 3.5)m, trước sân là bãi ruộng và 01 lối đi trải bê tông rộng 2,1m. Tiếp giáp phía Bắc là sân sau của nhà bà H1 đang ở. Phía Đông gian nhà tiếp giáp bãi ruộng, phía tây gian nhà là 01 lối đi rộng 0,8 m dẫn ra sân nhà bà H1 đang ở. Nhà gồm 01 dãy công trình 01 tầng từ phía Bắc về phía Nam gồm nhà vệ sinh, nhà tắm, bếp và nhà kho. Giáp dãy công trình trên về phía T2 là lối đi ra đường dong của TDP số 19.
- Trong gian nhà ở tại góc Đông Nam có 01 giường gỗ KT (2 x 1,6 x 0,51)m trên giường có đệm và một số chăn gối cũ. Trên sàn nhà tại vị trí cách cửa ra vào phía Đông 2,1m, cách tường nhà phía Đông 3,67m phát hiện 01 đám chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt, phun bắn, chất dạng nôn trên diện (1,7 x 0,4)m (vị trí số 01). Cách chất màu nâu đỏ tại vị trí số 01 1,7m về phía T, cách cửa ra vào phía Tây của tường phía Nam 2,4m, trên sàn nhà phát hiện đám chất màu nâu, đỏ dạng nhỏ giọt trên diện (0,08 x 0,01)m (vị trí số 02).
- Trên tường phía T2, tại vị trí cách đám chất vị trí số 02 0,85m, cách tường phía Nam 1,2m có gắn 02 tấm gỗ hình chữ nhật song song nhau làm kệ để đồ, trong đó tính từ trên xuống kệ 01 cách mặt sàn 1,3m, kệ 02 cách mặt sàn 0,65m. Kệ 01 có KT (1,43 x 0,38)m, trên kệ đang để một số vật dụng, chai lọ... và tại vị trí sát tường phía Tây, cách mép phía Bắc của K 0,24m phát hiện 04 con dao cùng loại, mỗi dao dài 21,5cm, phần lưỡi dao dài 11,5cm, bản rộng nhất 02 cm gồm 01 đầu nhọn, 01 cạnh sắc, phần cán nhựa màu vàng (vị trí số 03).
- Khu vực góc T2, Nam gian nhà ở, cách kệ gỗ 0,13m, trên sàn nhà sát tường phía Tây có 01 giá nhựa màu đỏ để bát, đũa. Trên ngăn thứ nhất tính từ trên xuống có 01 kéo kim loại dài 23,5cm, phần lưỡi 13,5cm, phần tay cầm bọc nhựa màu xanh.
- Mở rộng hiện trường cách nhà bà H1 khoảng 60m về phía Đông Bắc qua đường dong TDP số 19 phía sau nhà bà H1 trong vườn nhà anh Lê Văn Đ, sát tường rào và gốc cây chuối giáp đường dong phát hiện 01 con dao dài 21,5 cm, phần lưỡi kim loại dài 11,5cm, bản rộng nhất 02 cm, có một đàu nhọn, một cạnh sắc (vị trí số 8).
- Trên mặc áo dài tay kẻ dọc (áo bệnh nhân), dưới mặc quần bò ngang đầu gối.
- Tử thi cao 1,57m, thể trạng gầy, tình trạng tử thi đang trong kì co cứng.
- Mặt sau vai phải có vết rách thủng da cơ, bờ mép sắc gọn, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong.
- Vùng bụng phải ngang rốn có vết rách thủng da cơ xuyên thấu ổ bụng (KT khi khép vết thương dài 2,5cm, góc nhọn phái trên, ngoài bờ mép sắc, gọn). Qua vết thương có tạng rỗng lòi KT (8 x 7)cm.
- Hai tay, hai chân không phát hiện tổn thương.
- Rạch da cơ vùng ngực, bụng: Tụ máu dưới da cơ vùng bụng phải tương ứng với vết rách thủng da cơ trên diện (10 x 10)cm.
- Ô bụng chứa nhiều nước máu lẫn máu đông (khoảng 2 lít).
- Vết rách thủng vùng bụng phải xuyên thấu qua phúc mạc tới đám rối mạc treo tràng dưới, tới động mạch chủ bụng ngay trên đoạn phân chia làm rách bán phần động mạch chủ.
- Tụ máu toàn bộ hệ thống mạc treo, tạo các ổ đông máu.
- Hệ thống xương sườn không dập gãy, hai khoang phổi khô.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y về tử thi đối với Lê Văn P; giám định ADN giữa 02 (hai) mẫu chất màu nâu đỏ ghi thu tại vị trí số 1, số B và con dao tại vị trí số 8 thu giữ tại hiện trường vụ án so sánh với mẫu máu của tử thi Lê Văn P; giám định mô bệnh học và độc chất.
Tại bản Kết luận giám định số 8134B/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của V1, kết luận: Trong mẫu phủ tạng và mẫu chất chứa trong dạ dày ghi thu của tử thi Lê Văn P gửi giám định đều không tìm thấy các chất độc thường gặp...; các chất an thần gây ngủ và kim loại nặng độc. (BL: 61)
Tại bản Kết luận giám định số 8127/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của V1, kết luận: Chất màu nâu đỏ ghi thu tại vị trí số 1 là máu người, không xác định được kiểu gen (ADN) do chất lượng dấu vết kém; Chất màu nâu đỏ ghi thu tại vị trí số 2 là máu người và là máu của Lê Văn P; Trên con dao ghi thu tại vị trí số 8 có bám dính máu người và là máu của Lê Văn P; L1 kiểu gen (ADN) của Lê Văn P tại V1 - Bộ C1. (BL: 62 - 63).
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 1733/KLGĐTT-KHHS ngày 05/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Nạn nhân Lê Văn P chết do vết thương thấu bụng, chảy máu trong; Cơ chế: Vùng bụng và vai phải do tác động của vật sắc nhọn (BL: 65 - 66).
* Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ các đồ vật, tài liệu sau:
+ Đối với 02 chất màu nâu đỏ thu giữ tại vị trí số 1,2; mẫu máu, chất chứa trong dạ dày, phủ tạng, động mạch chủ bụng của tử thi Lê Văn P: V1 - Bộ C1 đã sử dụng hết phục vụ công tác giám định.
+ 02 chất màu nâu đỏ thu giữ tại các vị trí số 5,7;
+ 01 chất dạng nôn thu giữ tại vị trí số 1;
+ 04 con dao thu giữ tại vị trí số 3;
+ 01 kéo thu giữ tại vị trí số 4;
+ 01 áo khoác thu giữ tại vị trí số 5;
+ 01 con dao thu giữ tại vị trí số 8;
+ 01 điện thoại đi động bị can Huỳnh Văn B giao nộp
Toàn bộ số vật chứng trên đã được chuyến đến kho Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định chờ xử lý theo quy định pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự:
Người đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Trần Văn Ú, sinh ngày: 10/02/1991, trú tại: khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang (là em trai anh Lê Văn P) được gia đình ủy quyền là người đại diện yêu cầu B bồi thường tổng số tiền là 124.000.000 đồng, gồm: 44.000.000 đồng tiền mai táng phí và 80.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần (BL: 153). Bi đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 65.000.000 đồng.
Cáo trạng số 13/CTr-VKSNĐ-P2 ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Huỳnh Văn B về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn B phạm tội “Giết người”; Đề nghị áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS; Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B từ 19 năm đến 20 năm tù; Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo tiếp tục bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 59.000.000 đồng; Đề nghị xử lý vật chứng theo qui định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo tác động gia đình bồi thường số tiền 65.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo tiếp tục thỏa thuận mức bồi thường. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đến cơ quan điều tra đầu thú, bố bị cáo là người có công với cách mạng; Đề nghị HĐXX quyết định hình phạt tù thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo sớm được trở về gia đình và xã hội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Khoảng 22h30 ngày 13/10/2024, trong lúc ăn uống tại sân nhà trọ ở tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định giữa Huỳnh Văn B và anh Lê Văn P xảy ra mâu thuẫn. Khi B bê bát đĩa vào trong bếp cất, anh Lê Văn P dùng chân đạp làm Huỳnh Văn B ngã xuống đất. Bi chạy đến chạn bát lấy 01 con dao bằng kim loại (dài 21,5cm; phần lưỡi bằng kim loại dài 11,5cm, bản rộng nhất 02cm, có một đầu nhọn, một cạnh sắc) cầm dao bằng tay phải đâm một phát vào vùng bụng phải của anh P. Anh P dùng tay ôm bụng bỏ chạy ra phía cửa thì B tiếp tục đuổi theo đâm tiếp 01 phát theo hướng từ trên xuống trúng vào vai phải của anh P. Hậu quả làm anh P tử vong do vết thương thấu bụng, chảy máu trong. Hành vi của Huỳnh Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Giết người” theo qui định tại điểm n khoản 01 Điều 123 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm tính mạng của anh Lê Văn P, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Nam Định.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, bị cáo đã đến Cơ quan điều tra đầu thú. Bố đẻ của bị can Huỳnh Văn B là ông Huỳnh Ngọc L đã có thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch N3 ghi nhận, tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX quyết định áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục để bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[6] Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, đại diện bị hại và bị cáo Huỳnh Văn B thỏa thuận bồi thường các khoản bao gồm: 44.000.000 đồng tiền mai táng phí và 80.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần, tổng số tiền là 124.000.000 đồng. Bi đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 65.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và đại diện bị hại thỏa thuận bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 59.000.000 đồng. Ngoài ra, đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác. Việc thỏa thuận là tự nguyện và phù hợp qui định pháp luật nên HĐXX sẽ ghi nhận trong phần quyết định của bản án.
[7] Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu huỷ 02 chất màu nâu đỏ thu giữ tại các vị trí số 5,7; 01 chất dạng nôn thu giữ tại vị trí số 1; 04 con dao thu giữ tại vị trí số 3; 01 kéo thu giữ tại vị trí số 4; 01 áo khoác thu giữ tại vị trí số 5; 01 con dao thu giữ tại vị trí số 8; Tất cả những vật chứng đều không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
T3 trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Những vấn đề liên quan trong vụ án:
Khoảng 23h04 ngày 13/10/2024, trên đường bỏ chạy, Huỳnh Văn B sử dụng mạng xã hội zalo gọi cho người cùng quê là Hứa Văn N2, sinh năm: 1990, trú tại: Áp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang để nhờ sự giúp đỡ. Tuy nhiên, lúc này N2 đang cho bạn là Nguyễn Văn H3, sinh năm: 1994, trú tại: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang cầm máy điện thoại nên H3 đã nghe máy điện thoại của Huỳnh Văn B gọi đến. B nói với H3: “Chú vừa đâm thẳng P, chú không có chỗ ngủ, cho chú ngủ nhờ. Sáng chú đi kiếm chỗ khác”. Hợp hỏi B đang ở đâu sau đó lấy xe máy để đi đón B thì gặp anh N2 ở sân khu trọ, H3 nói với N2: “Em đi rước chú B” thì N2 xin đi cùng, H3 trả điện thoại cho N2 rồi điều khiển xe máy chở anh N2 đi đón B. Khi đến ngã tư chợ “Chiều”, H3 và N2 đón được B rồi điều khiển xe máy chở B và N2 về nhà trọ (thuê của bà Lương Thị P1, sinh năm: 1954, trú tại: tổ dân phố số B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định).
Khi đi đến cổng nhà trọ, B nói với H3: “Cháu chở chú ra ghe, chú thay bộ đồ”, sau đó H3 điều khiển xe máy chở B ra cảng cá “Chính V" còn N2 về phòng trọ đi ngủ. Khi đến cảng cá “Chính V”, B lên tàu của anh O để thay quần áo, sau đó H3 điều khiển xe máy chở B về phòng trọ của mình. Tại đây, B kể lại cho anh H3 biết chuyện B bị anh P đánh, sau đó B đã dùng dao đâm anh P. Do tính chất công việc làm trên cảng phải đi vào giờ đêm nên H3 bảo B: “Cháu sửa soạn chuẩn bị đi ghe rồi, chú nghỉ ở đây. Sáng chú lên Công an để đầu thú và xin lỗi, bồi thường tiền thuốc cho anh P để giải quyết xong công việc”, sau đó B và anh H3 đi ngủ.
Khoảng 01h47, ngày 14/10/2024, H3 và N2 đi ra cảng cá “Quân sự” thuộc thị trấn T, anh H3 lên tàu của anh Nguyễn Kim H4, sinh năm: 1977, trú tại: xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định để đi ra biển đánh cá, còn B vẫn ngủ tại phòng trọ của H3. H3 và N2 không biết việc anh P tử vong. Đến ngày 16/10/2024, khi đi tàu trên biển về đất liền thì H3 với N2 mới biết việc B đâm tử vong anh P.
Như vậy, chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Hứa Văn N2 và Nguyễn Văn H3 về hành vi che giấu hay không tố giác tội phạm.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Huỳnh Văn B phải nộp 200.000 đồng. Án phí dân sự Huỳnh Văn B phải nộp 2.950.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn B phạm tội: “ Giết người”
- Áp dụng điểm n khoản 01 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt Huỳnh Văn B 19 (mười chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.
- Bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 586, Điều 591 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuân giữa bị cáo Huỳnh Văn B và đại diện của bị hại. Bị cáo Huỳnh Văn B bồi thường các khoản: 44.000.000 đồng tiền mai táng phí và 80.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần. Tổng số tiền là 124.000.000 đồng. Gia đình Huỳnh Văn B đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 65.000.000 đồng. Bị cáo Huỳnh Văn B phải bồi thường tiếp cho người đại diện của bị hại và anh Trần Văn Ú (đại diện theo ủy quyền) số tiền 59.000.000 đồng (năm mươi chín triệu đồng).
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017
Tịch thu tiêu huỷ 02 chất màu nâu đỏ thu giữ tại các vị trí số 5,7; 01 chất dạng nôn thu giữ tại vị trí số 1; 04 con dao thu giữ tại vị trí số 3; 01 kéo thu giữ tại vị trí số 4; 01 áo khoác thu giữ tại vị trí số 5; 01 con dao thu giữ tại vị trí số 8;
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Biên bản giao nhận vật chứng số 25/46 ngày 11/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định.
- Về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Huỳnh Văn B phải nộp 200.000 đồng. Án phí dân sự Huỳnh Văn B phải nộp 2.950.000 đồng.
Bị cáo, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Anh Tuấn |
10
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về giết người
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1.Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn B phạm tội: “ Giết người” 2. Áp dụng điểm n khoản 01 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt Huỳnh Văn B 19 (mười chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024. 3. Bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 586, Điều 591 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuân giữa bị cáo Huỳnh Văn B và đại diện của bị hại. Bị cáo Huỳnh Văn B bồi thường các khoản: 44.000.000 đồng tiền mai táng phí và 80.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần. Tổng số tiền là 124.000.000 đồng. Gia đình Huỳnh Văn B đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 65.000.000 đồng. Bị cáo Huỳnh Văn B phải bồi thường tiếp cho người đại diện của bị hại và anh Trần Văn Ú (đại diện theo ủy quyền) số tiền 59.000.000 đồng (năm mươi chín triệu đồng). 4. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017 Tịch thu tiêu huỷ 02 chất màu nâu đỏ thu giữ tại các vị trí số 5,7; 01 chất dạng nôn thu giữ tại vị trí số 1; 04 con dao thu giữ tại vị trí số 3; 01 kéo thu giữ tại vị trí số 4; 01 áo khoác thu giữ tại vị trí số 5; 01 con dao thu giữ tại vị trí số 8; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Biên bản giao nhận vật chứng số 25/46 ngày 11/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định.
