TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/DS-ST
Ngày 19 tháng 3 năm 2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Lâm Sơn; bà Nguyễn Thị Ly
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1410/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Bích L, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Người đại diện ủy quyền của bà L: Ông Hồ Trung C, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; (Văn bản ủy quyền ngày 26/11/2024); (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Quốc V, sinh năm 1978; bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm; địa chỉ:Số C, tổ B, ấp A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Dương Thị Bích L, do ông Hồ Trung C đại diện theo ủy quyền trình bày, bà Dương Thị Bích L do có mối quan hệ làm ăn và quen biết với vợ chồng ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K nên vào ngày 30/6/2024, bà L có cho ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K vay số tiền 200.000.000đ, có làm biên nhận do ông V, bà K ký tên, thời hạn vay 01 tháng, đến ngày 30/7/2024 sẽ trả lại vốn; ngoài ra vào ngày 10/8/2024, vợ chồng ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K vay thêm số tiền 50.000.000đ (không làm biên nhận), lãi suất thỏa thuận miệng 3%/tháng. Tổng cộng ông V, bà K nợ bà L 250.000.000đ. Nay bà L khởi kiện yêu cầu yêu cầu ông V, bà K liên đới trả cho bà số tiền còn nợ là 250.000.000đ và tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm cụ thể như sau: Đối với khoản vay 200.000.000đ: Tiền lãi từ ngày 30/6/2024 đến khi Tòa án xét xử và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi trả dứt nợ trên số vốn vay 200.000.000đ, tạm tính tiền lãi là: 200.000.000₫ x 04 tháng x 20%/năm = 16.000.000đ. Đối với khoản vay 50.000.000đ: Tiền lãi từ ngày 10/8/2024 đến khi Tòa án xét xử và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi trả dứt nợ trên số vốn vay 50.000.000đ, tạm tính tiền lãi là: 50.000.000đ x 03 tháng x 20%/năm = 3.000.000đ. Tổng cộng ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K phải liên đới trả số tiền vốn vay còn nợ là: 250.000.000đ + 19.000.000đ = 269.000.000đ, đồng thời yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi Tòa án xét xử và tính lãi tiếp tục đến khi trả dứt nợ vay;
Theo lời khai trong quá trình giải quyết bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy K trình bày, qua yêu cầu khởi kiện của bà L thì bà có ý kiến như sau: Vợ chồng bà với bà Dương Thị Bích L có quan hệ làm ăn với nhau, vợ chồng bà có vay của bà L nhiều lần những lần vay trước đã trả xong. Đối với khoản vay 200.000.000₫ mà bà L khởi kiện thì vợ chồng bà thừa nhận có vay của bà L số tiền này; mục đích vay là để làm vốn kinh doanh; biên nhận nợ ngày 30/6/2024 là do vợ chồng bà ký tên đối với khoản vay này vợ chồng bà xin trả mỗi tháng 1.000.000₫ cho đến khi dứt nợ và xin không tính lãi. Đối với số tiền 50.000.000đ mà bà L yêu cầu thì vợ chồng bà xác định không có vay và cũng không có ký biên nhận nợ nên không đồng ý trả số tiền này.
* Tại phiên tòa sơ thẩm,
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hồ Trung C xác định Yêu cầu ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K liên đới trả cho bà L số tiền 200.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 30/6/2024 cho đến khi xét xử. Đối với số tiền 50.000.000₫ mà trước đây nguyên đơn có yêu cầu ông V, bà K liên đới trả thì tại phiên tòa nguyên đơn xin rút lại yêu cầu này.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy K, ông Trần Quốc V trình bày: Thừa nhận vào ngày 30/6/2024, có ký nhận nợ của bà L 200.000.000đ, do hoàn cảnh khó khăn nên xin bà L cho trả mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi dứt nợ và xin không tính lãi. Đối với số tiền 50.000.000đ không có vay nợ nên không đồng ý trả số tiền này.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 217, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Bích L. Buộc ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K trả cho bà L số tiền 200.000.000đ và lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 30/6/2024 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Bích L yêu cầu ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K trả số tiền 50.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Dương Thị Bích L khởi kiện yêu cầu ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K có nghĩa vụ trả nợ theo biên nhận nợ mà ông V, bà K đã ký; chủ thể tham gia giao dịch không có đăng ký kinh doanh nên là tranh chấp về dân sự. Đồng thời, ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K (bị đơn) có nơi cư trú tại thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Ngày 30/6/2024, vợ chồng ông V, bà K có vay của bà L số tiền 200.000.000 đồng khi vay có làm biên nhận nợ, do ông V bà K ký tên. Bà Dương Thị Bích L yêu cầu ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K liên đới trả cho bà số tiền 200.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 30/6/2024 cho đến khi xét xử. Đối với khoản vay 50.000.000đ thì nguyên đơn xin rút lại đối với yêu cầu này. Phía bị đơn ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K thừa nhận có nợ 200.000.000đ nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi dứt nợ và xin không tính lãi.
Xét thấy: Hợp đồng vay tài sản được xác lập trên cơ sở tự nguyện và được các bên thừa nhận, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng đã giao kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K không trả nợ cho bà L theo thỏa thuận nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, việc bà L yêu cầu ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K có nghĩa vụ liên đới trả nợ gốc với số tiền 200.000.000 đồng là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sản mà các bên đã giao kết và phù hợp với Điều 280; Điều 357; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
Về lãi suất: Trong quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 30/6/2024 cho đến ngày xét xử (19/3/2025). Xét thấy bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, ít nhiều ảnh hưởng đến nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật là phù hợp với Điều 468 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Tiền lãi sẽ được tính như sau: Từ ngày 30/6/2024 đến ngày xét xử ngày 19/3/2024 là 08 tháng 17 ngày với mức lãi suất theo quy định pháp luật là 20%/năm (1,67%/tháng): 200.000.000₫ x 1,67%/tháng x 08 tháng x 17 ngày = 28.612.000đ (hai mươi tám triệu sáu trăm mười hai nghìn đồng).
Do đó, ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K có trách nhiệm liên đới trả cho bà Dương Thị Bích L số tiền vốn lãi là: 200.000.000đ + 28.612.000đ = 228.612.000đ (hai trăm hai mươi tám triệu sáu trăm mười hai nghìn đồng).
Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút lại yêu cầu ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K trả số tiền 50.000.000đ, đây là sự tự nguyên của nguyên đơn, phù hợp với Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
[3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 26, 35, 39, 147, 227, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280, 357, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự 2015;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- [1] Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Bích L đối với bị đơn ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K.
- [2] Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Bích L đối với ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K về việc yêu cầu ông V, bà K trả số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
- [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị Bích L được nhận lại 6.700.000đ (sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0023760 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ông Trần Quốc V1, bà Nguyễn Thị Thúy K phải chịu 11.430.000 đồng (mười một triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- [4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- [5] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Buộc ông Trần Quốc V, bà Nguyễn Thị Thúy K có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Dương Thị Bích L số tiền 228.612.000đ (hai trăm hai mươi tám triệu sáu trăm mười hai nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Phương Quyền |
Bản án số 39/2025/DS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp “hợp đồng vay tài sản"
- Số bản án: 39/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Dương Thị Bích L khởi kiện yêu cầu ông Trần Quóc V, bà Nguyễn Thị Thúy K trả số tiền vay 200.000.000đ
