|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2025/HS-PT Ngày 18-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
Ông Nguyễn Quang Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Sông Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 08/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Trương Thành T do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2024/HS-ST ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Trương Thành T, sinh ngày 09 tháng 8 năm 1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn X, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn K và bà Lê Thị N, có vợ là Đinh Thị L và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07 tháng 8 năm 2024. Có mặt.
- Bị hại:
- Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ: Chị Lê Thị M, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Lê Thị M: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1952; địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trịnh Huỳnh Q - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04 tháng 02 năm 2024, Trương Thành T (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander mang biển kiểm soát 15K-102.27 đi trên đường trục xã T theo hướng từ xã V đến xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng với vận tốc khoảng 50km/h trong điều kiện trời tối, tầm nhìn bị hạn chế. Khi đến địa phận thôn H, xã T, huyện V do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào anh Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Huy H đang đứng bên trái cạnh xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mang biển kiểm soát 16M7-4186 dừng cách lề đường khoảng 50cm. Hậu quả anh Đ và anh H đều bị thương được đưa đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện. Sau đó, T đến Công an huyện V đầu thú.
Tại bản Kết luận giám định số 982/KL-KTHS ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố H về dấu vết va chạm giữa các phương tiện trong vụ tai nạn như sau: “Dấu vết trượt xước mất sơn màu trắng, bám dính tạp chất màu đen (dạng nhựa) theo chiều từ trước về sau tại bên phải ốp nhựa cản trước xe ô tô mang biển kiểm soát 15K-102.27 (ảnh 5,6: bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết xô lệch, mặt ngoài trượt xước mất nhựa màu đen, bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn) theo chiều từ sau về trước tại chắn bùn bánh xe phía sau trên xe mô tô mang biển kiểm soát 16M7-4186 (ảnh 11, 12, 13: bản ảnh giảm định). Các dấu vết này được hình thành khi xe ô tô mang biển kiểm soát 15K1-102.27 chuyển động cùng chiều va chạm với xe mô tô mang biển kiểm soát 16M7-4186... Không đủ cơ sở xác định vận tốc của xe ô tô mang biển kiểm soát 15K-102.27 ngay trước thời điểm xảy ra va chạm”.
Tại các bản Kết luận giám định số 427/2024/KLTgTHS-TTPYHP ngày 03 tháng 6 năm 2024 và số 435/2024/KL ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Trung tâm P kết luận về thương tích của anh Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Huy H như sau:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ là: 93%.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Huy H là: 04%.
Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên”.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện V kết luận: “Các thiết bị trên xe mô tô mang biển kiểm soát 16M7-4186 nhãn hiệu YAMAHA sản xuất năm 2008 đã qua sử dụng bị hư hỏng tại thời điểm ngày 04/02/2024 có giá trị thiệt hại là 800.000 đồng”.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, ma túy của Trương Thành T cho thấy: Trong khí thở và cơ thể của T không có nồng độ cồn, không có ma túy.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã quyết định căn cứ vào c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trương Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo Trương Thành T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 589 và 590 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Buộc bị cáo Trương Thành T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Đ thiệt hại do sức khoẻ bị xâm hại và thiệt hại về tài sản với tổng số tiền là 343.168.147 đồng. Bị cáo đã bồi thường và chi phí điều trị tại bệnh vện cho anh Đ được tổng số tiền 303.005.629 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho anh Đ số tiền là 40.162.518 đồng (bốn mươi triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm mươi tám đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ của người được hưởng án treo, xử lý vật chứng, lãi suất chậm thi hành án, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23 tháng 12 năm 2024, người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Trương Thành T và buộc bị cáo T phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Đ số tiền 492.155.000 đồng.
Trước khi mở phiên toà phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của anh Đ giao nộp cho Toà án một số hoá đơn, chứng từ liên quan đến chi phí điều trị của anh Đ kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của anh Đ vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đồng thời yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm phối hợp cùng gia đình anh Đ trong việc điều trị cho anh Đ từ nay cho đến khi sức khoẻ được phục hồi.
Đối với kháng cáo của người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Văn Đ, bị cáo Trương Thành T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có điều kiện sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà:
Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Thành T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Trương Thành T để xử phạt bị cáo mức hình phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là có căn cứ. Về trách nhiệm dân sự, bản án sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 343.168.147 đồng (theo tỷ lệ lỗi là 70%) là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, gia đình anh Đ giao nộp tài liệu thể hiện sau khi xét xử sơ thẩm, anh Đ vẫn phải tiếp tục điều trị tại bệnh viện trong tình trạng bị liệt nửa người do chấn thương sọ não. Tuy nhiên, các chi phí điều trị phát sinh thêm chưa được Toà án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết. Vì vậy, không thuộc phạm vi xét xử của Toà án cấp phúc thẩm. Mặt khác, việc Toà án cấp phúc thẩm giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm sẽ làm mất quyền kháng cáo của bị cáo và bị hại, không đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử. Từ phân tích trên, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của anh Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với các chi phí phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm, anh Đ hoặc người đại diện hợp pháp của anh Đ có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; anh Đ là người yêu cầu bồi thường về sức khoẻ và có đơn đề nghị miễn án phí; vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự cho anh Đ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 10 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án; tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ là chị Lê Thị M có mặt. Vì vậy, ngày 24 tháng 12 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo nhận được đơn kháng cáo của chị M là vẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Thành T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ không kháng cáo về tội danh và khung hình phạt; chỉ kháng cáo để nghị huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng tăng mức hình phạt đối với bị cáo và tăng số tiền bồi thường thiệt hại vì cho rằng Hội đồng xét xử sơ thẩm cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án.
[3] Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Văn Đ: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Va chạm giữa xe ô tô của bị cáo Trương Thành T và các bị hại Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Huy H xảy ra vào đêm ngày 04 tháng 02 năm 2024 trong điều kiện trời tối, đường vắng người qua lại, không có đèn chiếu sáng công cộng; chỉ có đèn chiếu gần phát ra từ xe ô tô của bị cáo. Theo thời gian hiển thị trên camera hành trình của xe ô tô thì thời điểm bị cáo phát hiện ra anh Đ và anh H là 23 giờ 41 phút 08 giây, đến 23 giờ 41 phút 09 giây, xe ô tô của bị cáo đã đâm vào anh Đ và anh H. Như vậy, va chạm giữa xe ô tô của bị cáo và anh Đ, anh H diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (chỉ trong vòng 1 giây). Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi vô ý, nguyên nhân tai nạn là do bị cáo thiếu quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi phía trước có chướng ngại vật và do anh Đ - là người điều khiển xe mô tô không dừng xe sát mép đường bên phải theo chiều đi của mình. Sau khi va chạm xảy ra, bị cáo đã đưa anh Đ đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ1, Bệnh viện H1 - Hải Phòng và Bệnh viện H2 - Hà Nội. Do đó, sáng ngày 06 tháng 02 năm 2024, bị cáo mới đến trình diện, đầu thú tại Công an huyện V. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V xác minh, thu thập. Quá trình điều tra, gia đình anh Đ không có bất kỳ khiếu nại, tố cáo nào liên quan đến hoạt động điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V. Vì vậy, việc người đại diện hợp pháp của anh Đ cho rằng Toà án cấp sơ thẩm đã cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án là không có căn cứ.
[4] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Trương Thành T để xử phạt bị cáo mức hình phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là có căn cứ, không trái quy định của pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, gia đình anh Đ cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác là cơ sở để xem xét tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
[5] Theo quyết định của Bản án sơ thẩm, bị cáo phải bồi thường cho anh Đ thiệt hại về sức khoẻ và tài sản với tổng số tiền là 343.168.147 đồng (tương ứng với 70% lỗi); trong đó chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút là 191.618.610 đồng, thu nhập thực tế bị
mất của anh Đ là 60.483.600 đồng, chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc anh Đ là 128.528.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 108.810.000 đồng, thiệt hại về tài sản là 800.000 đồng. Quá trình anh Đ điều trị tại các bệnh viện, bị cáo đã chi trả viện phí, tiền thuốc, các chi phí khác và bồi thường thêm cho người thân của anh Đ với tổng số tiền là 303.005.629 đồng, số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh Đ là 40.162.518 đồng. Việc Toà án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho anh Đ số tiền nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 584, 585, 589, 590 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Vì vậy, kháng cáo của người đại diện hợp pháp của anh Đ về việc buộc bị cáo phải bồi thường thêm cho anh Đ số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 492.155.000 đồng là không có căn cứ.
[6] Tại giai đoạn phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của anh Đ giao nộp cho Toà án tài liệu thể hiện sau ngày xét xử sơ thẩm, sức khoẻ của anh Đ chưa bình phục, vẫn phải tiếp tục điều trị tại các cơ sở y tế và cần có người chăm sóc; tổng chi phí điều trị, chi phí sinh hoạt tính đến ngày xét xử phúc thẩm là 194.646.000 đồng, bao gồm tiền viện phí; tiền tập phục hồi chức năng; tiền thuốc; tiền mất thu nhập của anh Đ, chị M và ông N1; tiền thuê người chăm sóc các con của anh Đ; tiền ăn của các con của anh Đ; tiền điện nước; tiền ăn hàng ngày; tiền giấy, bỉm, sữa; tiền taxi đi lại v.v....
[7] Về các thiệt hại phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử đánh giá như sau: Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thiệt hại phát sinh sau thời điểm giải quyết bồi thường lần đầu được xác định tại thời điểm giải quyết bồi thường lần tiếp theo nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại. Các chi phí phát sinh sau thời điểm Toà án giải quyết sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có yêu cầu. Theo các liệu do gia đình anh Đ cung cấp, sau khi xét xử sơ thẩm, anh Đ vẫn phải tiếp tục điều trị tại các cơ sở y tế trong tình trạng bị liệt nửa người do chấn thương sọ não. Tuy nhiên, các chi phí phát sinh thêm chưa được Toà án xem xét, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm; nếu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết sẽ vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Mặt khác, bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Vì vậy, việc Hội đồng xét xử phúc thẩm giải quyết ngay yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm sẽ làm mất quyền kháng cáo của bị cáo và bị hại, không đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Văn Đ về việc huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng tăng mức hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường thiệt hại tính đến ngày xét xử sơ thẩm; Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[9] Đối với các chi phí phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm, anh Nguyễn Văn Đ hoặc người đại diện hợp pháp của anh Đ có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
[10] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[11] Về án phí: Bị cáo Trương Thành T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Kháng cáo phần quyết định về hình sự của người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Văn Đ không được chấp nhận. Tuy nhiên, vụ án không thuộc trường hợp được khởi tố theo yêu cầu của bị hại; vì vậy, anh Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Anh Đ là người yêu cầu bồi thường về sức khoẻ và có đơn đề nghị miễn án phí; vì vậy, Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự cho anh Đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trương Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo Trương Thành T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trương Thành T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ các điều 584, 585, 586, 589, 590 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao: Bị cáo Trương Thành T phải tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 40.162.518 đồng (bốn mươi triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm mười tám đồng). Bị cáo Trương Thành T đã nộp 40.162.518 đồng (bốn mươi triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm mười tám đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007486 ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 23, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Trương Thành T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.008.000 đồng (hai triệu không trăm lẻ tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và miễn toàn bộ án phí dân sự cho anh Nguyễn Văn Đ.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Bích Diệp |
Bản án số 39/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 39/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thành T
