|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HS-ST
Ngày 14/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị An
- Bà Lê Thị Sinh Chi
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và tại điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến – Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, Trại tạm giam Công an tỉnh T, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 27/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 04/3/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 09/6/1982 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Số nhà G, phố Đ, tổ C, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Đỗ Thị L1 (sinh năm 1949); Có vợ là Lã Thị Mỹ H (sinh năm 1996); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
- - Bản án số 48/HSST ngày 25/5/2000 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình xử phạt Nguyễn Hoàng L 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, ngày 25/8/2003 L đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
- - Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữ bệnh số 468/QĐ-UBND ngày 15/6/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố T đối với Nguyễn Hoàng L thời hạn 12 tháng, L đã chấp hành xong quyết định.
- - Bản án số 187/2019/HSST ngày 07/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tuyên phải Nguyễn Hoàng L 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng; L phải chịu 2000.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, tịch thu sung quỹ 70.000 đồng. Ngày 29/4/2021 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 03/02/2020 và ngày 10/3/2020 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, phạt bổ sung và tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/01/2025 đến ngày 23/01/2025 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Trích xuất có mặt tại điểm cầu thành phần)
* Người chứng kiến:
- Ông Nhâm Văn T, sinh năm 1958; Địa chỉ: Số nhà G, ngõ F, tổ G, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm)
- Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số nhà C, ngõ I, tổ C, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm)
* Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình: Ông Lê Minh Đ1 – Kiểm sát viên (Có mặt).
* Những người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Lưu Thanh T1 và ông Nguyễn Văn D1 – Cán bộ Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 17/01/2025, Nguyễn Hoàng L đi bộ từ nhà ra khu vực gần trường Đại học Y thuộc phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình gặp và mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó L cầm ở bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, khi L đi bộ đến khu vực đường L, tổ A, phường L, thành phố T thì bị tổ công tác Công an phường L, thành phố T phát hiện, yêu cầu dừng lại kiểm tra. Tại đây, dưới sự chứng kiến của ông Nhâm Văn T và anh Vũ Văn Đ, L tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của L ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói, bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng và khai đó là ma túy, loại Heroine của L vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng để gửi đi giám định và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường L để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L không quản lý và thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 81/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Vật chứng quản lý của Nguyễn Hoàng L gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,2148 gam (không phẩy hai nghìn một trăm bốn mươi tám gam). Heroine STT: 09, Danh mục IA, Nghị định 57/2022/NĐ-Cp ngày 25/8/2022 của Chính phủ” . Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 46/CT-VKSTPTB ngày 26/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu 0,1581 gam ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Hoàng L trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 81/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập ngày 17/01/2023; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là ông Nhâm Văn T và anh Vũ Văn Đ; Bản kết luận giám định số 81/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 17/01/2025 tại khu vực đường L, tổ A, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Hoàng L đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,2148gam mục đích để sử dụng cho bản thân bị tổ Công tác Công an phường L phát hiện bắt quả tang. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được tác hại rất lớn của ma túy, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp mua về và cất giữ trong người để sử dụng cho bản thân với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử lý thật nghiêm minh, xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Do bị cáo đã từng bị xét xử về tội ma tuý nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 0,2148 gam ma túy, loại Heroine sau khi lấy mẫu giám định còn 0,1581 gam và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Hoàng L trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 81/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T là vật cấm tàng trữ lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: L khai mua của một người nam giới, không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực gần Đại học Y T, phường K, thành phố T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/01/2025, phạt bổ sung 5.000.000 (năm triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 0,1581 gam ma túy, loại Heroine và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Hoàng L trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 81/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
(Các tài sản đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 26/02/2025).
-
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Nguyễn Hoàng L có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 14/3/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng L - Tàng trữ trái phép chất ma túy
