TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HS-ST
Ngày 11/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Hoàng Phi Vân; Phó chủ tịch Hội nông dân thành phố Tân Uyên;
- Ông Tống Văn Tâm; Giáo viên hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Trần Văn N, sinh ngày 18/01/2006 tại Nghệ An, thường trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982. Bị cáo có 03 anh em, người lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: không.
Ngày 15/12/2023, có hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn giao thông làm chết 01 người. Ngày 22/4/2024, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến, nay; có mặt.
2
2. Trần Văn H1, sinh năm 1983 tại Nghệ An, thường trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1961. Bị cáo có vợ tên Bùi Thị Mỹ H2, sinh năm 1988 và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: không.
Ngày 15/12/2023, có hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn giao thông làm chết 01 người. Ngày 29/7/2024, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố bị can và áp dụng cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn N: Ông Trần Văn B, sinh năm 1971 (là cha bị cáo) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 (là mẹ bị cáo); thường trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; ông B có mặt, bà H có đơn xin vắng mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; thường trú: Khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L:
- Bà Phạm Hồng T, sinh năm 1982; thường trú: Tổ A, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Ông Phạm Nhựt A, sinh năm 1990; thường trú: Tổ H, khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bà Phạm Hồng V, sinh năm 1983; thường trú: Tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của ông A và bà T: Bà Phạm Hồng V, sinh năm 1983; thường trú: Tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Giấy ủy quyền ngày 08/01/2024); vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Bùi Thanh H3, sinh năm 1964; thường trú: 202/2 ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Ông Trần Văn B, sinh năm 1971; thường trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Văn N và bị cáo Trần Văn H1 có quan hệ là anh em chú bác ruột với nhau. Bị cáo N sinh sống và giúp việc buôn bán quán ăn cho bị cáo H1 tại khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bị cáo N sinh ngày
3
18/01/2006, tính đến ngày 15/12/2023 thì N chưa đủ 18 tuổi nên không có giấy phép lái xe theo quy định. Tuy nhiên, thường ngày H1 vẫn giao xe mô tô biển số 66L1-110.42 cho N để sử dụng làm phương tiện đi lại phụ bán quán cho H1 tại khu phố A và khu phố E, phường H.
Khoảng 05 giờ ngày 15/12/2023, N điều khiển xe mô tô biển số 66L1-110.42 đi từ quán của H1 tại khu phố A, phường H đến quán mới khai trương của H1 tại khu phố E, phường H để phụ giúp việc bán hàng. Khi N lấy xe đi thì H1 nhìn thấy nhưng vẫn để N sử dụng như thường ngày. N điều khiển xe mô tô biển số 66L1-110.42 lưu thông trên đường Đ đến đoạn thuộc khu phố B, phường H, do không chạy đúng làn đường quy định (lưu thông trên làn đường dành cho xe ô tô) và thiếu chú ý quan sát nên N để xe mô tô do mình điều khiển đụng trúng vào người bà Nguyễn Thị L là người đi bộ đang đi qua đường. Hậu quả làm bà L té ngã xuống đường bị thương tích, được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu nhưng sau đó tử vong.
Công an phường H sau khi tiếp nhận tin báo, lập hồ sơ và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tạm giữ đồ vật liên quan gồm 01 xe mô tô biển số 66L1-110.42.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra tai nạn là đường ĐT747, đoạn thuộc khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đường ĐT747 là đường nhựa, mặt đường bằng phẳng, chiều rộng mặt đường là 14m; đường có dải phân cách cố định chia thành hai phần đường, mỗi phần rộng 7 mét, trên mỗi phần đường có hai làn đường, mỗi làn rộng 3,5 mét. Vị trí xảy ra va chạm nằm ở làn đường bên trái sát dải phân cách cố định (làn đường dành cho xe ô tô).
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 13/KLGĐTT-KTHS ngày 18/12 của Phòng K Công an tỉnh B và Thông báo kết luận giám định số 236/TB-ĐTTH ngày 25/12/2023, kết luận: Các kết quả chính: Nhiều vết sây sát da, bầm tụ bên ngoài. Gẫy xương cẳng chân hai bên, gãy xương cổ tay, vỡ xương khớp gối trái; gãy nhiều xương sườn, dập rải rác hai phổi và rốn phổi; dập vỡ gan, dập thận; dập rách mạc treo ruột non và ruột non; Ô bụng chứa nhiều máu. Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Thị L là đa chấn thương.
Đối với xe mô tô biển số 66L1-110.42, quá trình điều tra xác định xe thuộc sở hữu của bị cáo Trần Văn H1, H1 trực tiếp quản lý và sử dụng xe này. Tuy nhiên, thời điểm mua và đăng ký xe thì H1 chưa có giấy phép lái xe nên đã nhờ ông Bùi Thanh H3 (là cha vợ của H1) đứng tên dùm.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn B (là cha của bị cáo Trần Văn N) đã đại diện bồi thường số tiền 100.000.000 đồng (Trong đó có 80.000.000 đồng của ông B và 20.000.000 đồng của bị cáo H1) cho gia đình bị hại Nguyễn Thị L. Bà Phạm Hồng V (là con của bị hại) không có yêu cầu gì khác và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Trần Văn N và Trần Văn B.
4
Cáo trạng số 61/CT-VKSTU ngày 03/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Trần Văn H1 tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên phát biểu quan điểm: Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo Trần Văn N đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo Trần Văn H1 đã phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo Trần Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người đại diện theo pháp luật của bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; người đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội, bà nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng H4 huy chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Bị cáo Trần Văn H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả; người đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội, bà nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng H4 huy chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; Điều 36; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H1 từ 10 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường xong cho đại diện bị hại và gia đình bị hại không có yêu cầu khác nên không đề nghị giải quyết.
5
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với xe mô tô biển số 66L1-110.42 nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS màu đỏ đen, số máy: 5C64900021, số khung: RLCS5C640CY899981 do ông Bùi Thanh H3 đứng tên chủ sở hữu nhưng là tài sản của bị cáo H1 nên đề nghị trả lại cho bị cáo Trần Văn H1.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn N và Trần Văn H1 đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và không trình bày lời bào chữa.
Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại có lời khai: Gia đình bị hại đã được đại diện gia đình bị cáo Trần Văn N và Trần Văn H1 bồi thường số tiền 100.000.000 đồng; đồng thời đã tự nguyện có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không yêu cầu gì khác, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Bùi Thanh H3 không có yêu cầu gì đối với xe môtô biển số 66L1-110.42 vì xe này ông chỉ đứng tên giùm cho con rể là bị cáo Trần Văn H1. Ông Trần Văn B không yêu cầu bị cáo Trần Văn N phải trả lại số tiền 80.000.000 đồng mà ông B đã bồi thường cho gia đình bị hại thay cho bị cáo.
Nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội lao động phụ giúp gia đình, nuôi bản thân, nuôi 02 con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, ban hành các quyết định, văn bản tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố. Căn cứ biên bản vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ, bản ảnh hiện trường; kết luận giám định dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết va chạm, vị trí va chạm; kết luận giám định hình ảnh và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 15/12/2023, tại đường Đ thuộc khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Văn N không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng điều khiển xe mô tô biển số 66L1-110.42 tham
6
gia giao thông đi không đúng làn đường quy định, thiếu chú ý quan sát nên để phần bên trái xe mô tô va chạm vào mặt phía trước và bên trái người của bà Nguyễn Thị L khi bà L đang đi bộ qua đường. Hậu quả, bà Nguyễn Thị L tử vong.
Trước đó, khoảng 05 giờ cùng ngày 15/12/2023, bị cáo Trần Văn H1 mặc dù biết rõ Trần Văn N (là em chú bác với H1) chưa đủ 18 tuổi, không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn giao xe mô tô biển số 66L1-110.42 cho N sử dụng để đi phụ bán quán mới khai trương tại khu phố E, phường H. Hậu quả, N đã sử dụng xe mô tô trên tham gia giao thông và va chạm với bà Nguyễn Thị L là người đi bộ, hậu quả làm bà L tử vong.
Hành vi của bị cáo Trần Văn Nghĩa L1 nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, trực tiếp gây thiệt hại tính mạng của người khác. Bị cáo phải nhận thức chỉ khi được cấp giấy phép lái xe theo quy định mới được điều khiển xe tham gia giao thông, khi điều khiển xe phải đi đúng làn đường quy định; bị cáo không chú ý quan sát nên để phần bên trái xe mô tô do mình điều khiển va chạm vào mặt phía trước và bên trái người của bà Nguyễn Thị L khi bà L đang đi bộ qua đường. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 và khoản 23, Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ với tình tiết định khung được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Trần Văn H1 là xem thường pháp luật, đã giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự xã hội tại địa phương.
Do vậy, khi quyết định hình phạt cần tương xứng với mức độ lỗi, tính chất của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để các bị cáo thấy được sai lầm, từ đó tu dưỡng, có ý thức chấp hành pháp luật để trở thành công dân tốt.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố bị cáo bị cáo Trần Văn N tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Văn H1 tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo Trần Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện theo pháp luật của bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra; đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội, bà nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng H4 huy chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
7
- - Bị cáo Trần Văn H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả; có ông nội, bà nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng H4 huy chương kháng chiến; đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo Trần Văn N có nhân thân tốt; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; bản thân bị cáo có thể tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm; thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cho bị cáo Trần Văn N được hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian nhất định là đủ tác dụng giáo dụng bị cáo ý thức trở thành công dân tốt, không gây nguy hiểm cho xã hội mà vẫn đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Xét bị cáo Trần Văn H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng và làm nghề buôn bán nuôi 02 con nhỏ; bản thân bị cáo có thể tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ là đủ sức răn đe, cảnh tỉnh đối với bị cáo và thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật; đồng thời giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục là đủ tác dụng giáo dục bị cáo ý thức trở thành công dân tốt, không gây nguy hiểm cho xã hội mà vẫn đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[5] Hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo H1 tại phiên tòa là có căn cứ. Đối với bị cáo N cần xem xét giảm nhẹ hơn so với đề nghị của Kiểm sát viên là đủ để giáo dục bị cáo là người chưa thành niên phạm tội.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với xe môtô biển số 66L1-110.42 (do ông Bùi Thanh H3 đứng tên chủ sỡ hữu dùm cho bị cáo H1) là tài sản của bị cáo H1, bị cáo là người trực tiếp quản lý. Mặc dù bị cáo đã cho bị cáo N sử dụng gây tai nạn, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng đây là lỗi vô ý của bị cáo N, do đó cần trả lại xe này cho bị cáo Trần Văn H1.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện gia đình các bị cáo là ông Trần Văn B (Cha của bị cáo N) đã bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho bà Phạm Hồng V là đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L. Sau khi
8
nhận bồi thường, bà V không có yêu cầu gì khác và có đơn xin bãi nại cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại phiên tòa, ông B không yêu cầu bị cáo N phải trả lại số tiền 80.000.000 đồng đã bồi thường thay cho bị cáo N nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và bị cáo Trần Văn H1 phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên;
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án (11/3/2025).
Giao bị cáo Trần Văn N cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn H1 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được bản án, quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Trần Văn H1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên;
9
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Trần Văn H1.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Trả cho bị cáo Trần Văn H1 xe môtô biển số 66L1-110.42 nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS màu đỏ đen, số máy: 5C64900021, số khung: RLCS5C640CY899981.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương)
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Trần Văn N và Trần Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; đại diện hợp pháp của bị cáo N; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bình Dương;
- - VKSND tỉnh Bình Dương;
- - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
- - PV06, Công an tỉnh Bình Dương;
- - Cơ quan THA HS Công an tỉnh Bình Dương;
- - VKSND thành phố Tân Uyên;
- - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
- - UBND xã Nam Lĩnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;
- - Bị cáo và người tham gia tố tụng;
- - Lưu Văn thư, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thành Hiệp |
10
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và bị cáo Trần Văn H1 phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
