Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 39/2025/HSST

Ngày 11/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phượng;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Hấn

Ông Lê Hổ Bình

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm- Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thùy L - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/TLST - HS ngày 23/01/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1975; Giới tính: Nữ; HKTT: P3 HP tập thể Dệt kim Đ, phường Đ, H, Hà Nội; Nơi ở: Số B phố V, phường Đ, H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Họ tên bố: Nguyễn Văn P; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị D; Họ tên chồng: Phạm Tiến D1; Con: có 02 con sinh năm 1997 và 2003.

Tiền án, tiền sự: Không

D2 chỉ bản số 00487, lập ngày 11/9/2024 tại Công an quận H. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an T4. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Bà Ngô Thị Hồng T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số F ngách I ngõ B Â, phường Q, T, Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Luật sư Bùi Văn T2 – Công ty L2 - Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/7/2023, Cơ quan CSĐT - Công an quận H nhận được đơn tố giác của bà Ngô Thị Hồng T1 (sinh năm: 1971; HKTT: P408 tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội) về việc bị Nguyễn Thị Thanh T lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại số C N, quận H, Hà Nội vào ngày 15/11/2021. Bà Ngô Thị Hồng T1 giao nộp: 01 USB Kingston màu tím chứa 02 file ghi âm có nội dung liên quan đến nội dung sự việc.

Quá trình điều tra xác định nội dung vụ án như sau:

Nguyễn Thị Thanh T và bà Ngô Thị Hồng T1 quen biết nhau từ năm 2012. Đến tháng 11/2021, qua nói chuyện, T biết con gái bà T1 là chị Lê Diệu L1 (Sinh năm: 1997; HKTT: P408, C tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội) đang chuẩn bị thi bác sĩ nội trú của trường Đại học Y, bà T1 lo chị L1 thi không đỗ. Thấy vậy, T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà T1. Để lấy lòng tin của bà T1, T nói dối có quen biết với ông Phạm Như H - Phó Hiệu trưởng trường Đại học Y và sẽ nhờ ông H đảm bảo chắc chắn chị L1 thi đỗ với chi phí là 400.000.000 đồng. Bà T1 đồng ý và bảo chị L1 đến trường Đại học Y - Trường Đại học Y nộp hồ sơ đăng ký dự thi theo quy định của trường. Ngày 12/11/2021, chị L1 nhận được giấy báo của trường, báo lịch thi tuyển bác sỹ nội trú vào ngày 11&12/12/2021. Đến ngày 15/11/2021, khi bà T1 đang ở cơ quan tại số C N, phường H, quận H, Hà Nội thì được T gọi điện thoại thông báo là đang ở chỗ ông H trao đổi về việc thi cử của chị L1 và đề nghị bà T1 chuyển trước số tiền 200.000.000 đồng để lo việc. Bà T1 đồng ý và đã chuyển số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản số 14022412113019 tại ngân hàng T5 của bà T1 đến tài khoản số 0491000018758 mang tên Nguyễn Thị Thanh T tại ngân hàng V. Đến khoảng cuối tháng 11/2021, trước khi diễn ra kỳ thi, T tiếp tục yêu cầu bà T1 chuyển nốt số tiền còn lại là 200.000.000 đồng để ông H lo công việc cho chị L1. Bà T1 đã chuyển 200.000.000 đồng tiền mặt cho T tại nhà T ở địa chỉ số P, HP tập thể D, phường Đ, H, Hà Nội, việc giao tiền không viết giấy tờ. Sau khi chị L1 dự thi tuyển bác sỹ nội trú tại Đại học Y thuộc Trường Đại học Y, ngày 16/12/2021 kết quả điểm thi trên trang web của trường, kết quả xếp thứ hai nên bà T1 đã thông báo cho T biết. T nói “xếp thứ 2 là đỗ rồi và chờ giấy gọi nhập học”. Sau đó, T yêu cầu bà T1 chuyển số tiền 34.000.000 đồng để mua điện thoại Iphone 13 làm quà cảm ơn tặng cho ông H nên ngày 22/12/2021, bà T1 đã chuyển số tiền trên theo yêu cầu của T vào tài khoản số 0491000018758 mang tên Nguyễn Thị Thanh T tại ngân hàng V với nội dung “chuyen tam tien mua dien thoai". Sau đó, không thấy chị L1 có giấy báo nhập học, ngày 05/3/2022, bà T1 đã tra cứu kết quả tuyển sinh của trường Đại học Y thì biết chị L1 không đỗ nên đã tìm gặp T

yêu cầu hoàn trả lại toàn bộ số tiền 434.000.000 đồng. Bà T1 yêu cầu T viết giấy biên nhận hiện đang nợ 818.630.000 đồng (gồm 434.000.000 đồng tiền xin việc cho L1 và một số khoản tiền khác T vay mượn của bà T1). T hứa sẽ trả một nửa số tiền với lý do phải ngoại giao chi phí hết một nửa để lo thi cử cho con gái bà T1, sau đó T vẫn không trả tiền cho bà T1 nên bà T1 đã đến Cơ quan CSĐT - Công an quận H trình báo.

Tại Kết luận giám định số 05/KL-KTHS của V1 Bộ C kết luận: “ Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong các tập tin âm thanh mẫu cần giám định. Tiếng nói của người phụ nữ xưng là “em” (được ký hiệu là “Tâm” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) trong mẫu cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Thị Thanh T trong mẫu so sánh là của cùng một người”.

Tiến hành kiểm tra sao kê lịch sử giao dịch của số tài khoản 14022412113019 mang tên Ngô Thị Hồng T1 tại ngân hàng T6 và sao kê lịch sử giao dịch của số tài khoản 0491000018758 mang tên Nguyễn Thị Thanh T tại ngân hàng V xác định: Từ ngày 20/9/2021 đến 20/9/2022, giữa bà T1 và T có nhiều giao dịch chuyển tiền, trong đó ngày 15/11/2021, tài khoản số 0491000018758 của T đã nhận được số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản số 14022412113019 của bà T1 với nội dung "Chuyen tien cho T3, noi tru”; ngày 22/12/2021, tài khoản số 0491000018758 của T đã nhận được số tiền 34.000.000 đồng từ tài khoản số 14022412113019 của bà T1 với nội dung “chuyen tam tien mua dien thoai".

Ngày 09/01/2024, Trường Đại học Y đã có công văn số 3407 với nội dung: Thời gian từ tháng 01/2021 đến nay: PGS.TS Phạm Như H giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng. Từ tháng 3/2021 đến tháng 7/2022, PGS.TS Phạm Như H giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng lâm thời kiêm Phó Hiệu trưởng T2. Trong kỳ thi tuyển sinh Sau đại học đợt 2 năm 2021 PGS.TS Phạm Như H: giữ chức vụ Phó Chủ tịch HĐTS kiêm trưởng ban chấm thi. Ngoài ra, nhà trường không có cán bộ, giảng viên nào khác tên Phạm Như H. Đối với thông tin thí sinh Lê Diệu L1 (SN 23/02/1997, Hà Nội) đăng ký dự thi: BSNT chuyên ngành Ung thư; quá trình dự thi của thí sinh theo đúng quy chế của Bộ Y1 và của ĐHQGHN; Thí sinh không đỗ BSNT vào trường Đại học Y, ĐHQGHN.

Ông Phạm Như H (sinh năm: 1968; HKTT: số B ngõ C N, phường T, quận H, Hà Nội) khai: Ông H là bác sĩ, giảng viên và hiện là Phó Hiệu trưởng trường Đại học Y. Ngoài ra, ông H cũng thường làm việc tại Phòng khám N có địa chỉ tại số A H - H - Hà Nội và cơ sở thứ 2 có địa chỉ tại A T - P. T - Cầu G - Hà Nội. Trong kỳ thi tuyển sinh sau đại học đợt 2 năm 2021, ông H với vai trò là Phó Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh kiêm trưởng ban coi thi, có nhiệm vụ cùng với Hội đồng tuyển sinh của Nhà trường thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ trong công

tác tuyển mà Bộ G quy định. Ông H không biết thí sinh Lê Diệu L1, không liên quan gì đến vụ việc giữa bà Ngô Thị Hồng T1 và Nguyễn Thị Thanh T. Ông H không nhận bất kỳ khoản vật chất nào từ Nguyễn Thị Thanh T.

Ngày 12/8/2024, Trường Đại học Y đã có công văn số 1759 với nội dung: Nhà trường cung cấp đầy đủ thông tin hồ sơ tuyển sinh, kết quả thi tuyển sinh của chị Lê Diệu L1 (sinh năm: 1997; HKTT: P408 C2 tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội) (cụ thể đính kèm Công văn này). Qua kiểm tra, rà soát hồ sơ cán bộ, Trường Đại học Y xác nhận bà Nguyễn Thị Thanh T không phải là cán bộ của Trường Đại học Y, ĐHQGHN. Bà T không có vị trí, chức năng, nhiệm vụ gì trong công tác tuyển sinh của Trường Đại học Y, ĐHQGHN.

Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Nguyễn Thị Thanh T khai số tiền bà Ngô Thị Hồng T1 chuyển cho T là tiền vay mượn, T không lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà T1, sau đó thay đổi lời khai khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Sau khi nhận tiền, T đã sử dụng toàn bộ số tiền 400.000.000 đồng để trả nợ và giải quyết việc cá nhân chứ không lo thi cử cho chị Lê Diệu L1. Qua các mối quan hệ xã hội, T biết ông Phạm Như H là giáo viên của trường Đại học Y và có phòng khám răng riêng ở bên ngoài nên T nhắc đến ông H trong quá trình nói chuyện với bà T1 là để bà T1 tin tưởng chuyển tiền cho T lo thi cử cho chị L1. Thực tế T không có mối quan hệ gì với ông H và không chuyển tiền đã nhận của chị T1 cho ông H để lo thi cử cho chị L1. Đối với số tiền 34.000.000 đồng là số tiền bà T1 tự chuyển khoản nhờ T mua điện thoại Iphone. Tuy nhiên, T không am hiểu nên đã không mua được điện thoại và sau đó đã gửi trả lại bà T1 số tiền này tại cơ quan bà T1 – số C N, quận H, Hà Nội. Số tiền T lừa đảo chiếm đoạt của bà T1 là 400.000.000 đồng không liên quan đến các khoản vay cá nhân khác giữa T và bà T1. Hiện tại, T không có khả năng trả tiền cho bà T1.

Chị Lê Diệu L1 khai: Tháng 11/2021, chị L1 tự tìm hiểu, đăng ký dự thi bác sỹ nội trú chuyên ngành ung thư qua Website của trường Y và tham gia thi tuyển sinh theo đúng quy định của trường. Quá trình đăng ký dự thi và tham gia thi tuyển sinh, chị L1 không nhận được bất kỳ sự hướng dẫn, trao đổi về việc thi và làm bài thi của bất kỳ ai (kể cả mẹ chị L1 là bà T1 cũng không trao đổi hướng dẫn gì chị L1 trong việc dự thi tuyển sinh vào trường). Kết quả thi tuyển sinh, Chị L1 có tổng điểm tuyển sinh cao thứ 2 (tính từ trên xuống) nhưng vẫn không trúng tuyển bác sỹ nội trú chuyên ngành ung thư do điểm môn điều kiện của chị L1 không đạt điểm sàn theo quy định tuyển sinh chuyên ngành của trường. Đến khoảng tháng 8/2023, sau khi chị L1 được Cơ quan điều tra mời lên làm việc làm rõ nội dung đơn tố giác của bà T1 đối với bà Nguyễn Thị Thanh T thì chị L1 mới được bà T1 cho biết sự việc vào thời điểm chị L1 tham gia dự thi bác sỹ nội trú vào Trường Đại học Y, bà T1 đã nhờ bà T lo thi đỗ bác sỹ nội trú cho T với chi

phí là hơn 400.000.000 đồng. Việc thỏa thuận cụ thể giữa bà T1 và bà T thì chị L1 không biết.

Bà Ngô Thị Hồng T1 khai: Tổng số tiền Nguyễn Thị Thanh T lừa đảo chiếm đoạt của bà T1 là 434.000.000 đồng trong đó số tiền 400.000.000 đồng là tiền T lo thi cử cho con gái bà T1 là chị Lê Thị Diệu L1 và 34.000.000 đồng là tiền T yêu cầu bà T1 chuyển để mua điện thoại Iphone 13 làm quà cảm ơn tặng cho ông H đã lo thi cử cho chị L1. Hiện T chưa khắc phục hậu quả cho bà T1. Về dân sự, bà T1 yêu cầu T trả lại cho bà T1 số tiền 434.000.000 đồng.

Do có mâu thuẫn về số tiền 34.000.000 đồng, Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã tổ chức đối chất giữa Nguyễn Thị Thanh T và bà Ngô Thị Hồng T1. Kết quả: cả hai giữ nguyên lời khai và khẳng định lời khai của mình là đúng. Như vậy, mặc dù Nguyễn Thị Thanh T không thừa nhận lừa đảo chiếm đoạt số tiền 34.000.000 đồng trong tổng số tiền 434.000.000 đồng lừa đảo chiếm đoạt của bà Ngô Thị Hồng T1 tuy nhiên căn cứ lời khai của bà T1 phù hợp với sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện ngày 22/12/2021, tài khoản số 0491000018758 của T đã nhận được số tiền 34.000.000 đồng từ tài khoản số 14022412113019 của bà T1 với nội dung “chuyen tam tien mua dien thoai”, phù hợp bản dịch nội dung ghi âm thể hiện việc T thừa nhận không sử dụng tiền bà T1 chuyển để mua điện thoại cảm ơn ông H, mặt khác T khai đã trả 34.000.000 đồng tiền mặt cho bà T1 nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho lời khai của mình, như vậy đủ căn cứ xác định tổng số tiền Nguyễn Thị Thanh T lừa đảo chiếm đoạt của bà Ngô Thị Hồng T1 là 434.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 28/CT - VKS ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố Nguyễn Thị Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà T1 là 434.000.000 đồng và đồng ý bồi thường cho bà T1 số tiền trên

- Người bị hại bà Ngô Thị Hồng T1 khai: Tổng số tiền Nguyễn Thị Thanh T lừa đảo chiếm đoạt của bà là 434.000.000 đồng trong đó số tiền 400.000.000 đồng là tiền T lo thi cử cho con gái bà T1 và 34.000.000 đồng là tiền T yêu cầu bà T1 chuyển để mua điện thoại Iphone 13 làm quà cảm ơn. Hiện T chưa khắc phục hậu quả cho bà T1, bà T1 yêu cầu T trả lại cho bà T1 số tiền 434.000.000 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo

Nguyễn Thị Thanh T mức án từ 10 năm 06 tháng tù đến 11 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 585, 589 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Ngô Thị Hồng T1 số tiền 434.000.000 đồng. Miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại- luật sư Bùi Văn T2 trình bày: Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố, tuy nhiên mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề xuất còn thấp so với hành vi của bị cáo, đề nghị HĐXX tăng nặng mức hình phạt đối với bị cáo.

- Đại diện VKS đối đáp: Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ TNHS đại diện VKS giữ nguyên mức án đã đề xuất.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận H, TP .; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, TP .: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những căn cứ xác định tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp với vật chứng được thu giữ cùng các chứng cứ, lời khai, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Do cần tiền để trả nợ và có mục đích chiếm đoạt tài sản từ trước nên trong khoảng thời gian từ ngày 15/11/2021 đến ngày 22/12/2021, Nguyễn Thị Thanh T không có nghề nghiệp ổn định, đã đưa ra thông tin gian dối là quen biết ông Phạm Như H – Phó Hiệu trưởng trường Đại học Y có thể lo được cho chị Lê Diệu L1 (con bà T1) đỗ bác sĩ nội trú Trường Đại học Y làm bà Ngô Thị Hồng T1 tin tưởng chuyển số tiền 400.000.000 đồng cho T tại số C N, phường H, quận H, Hà Nội và tại địa bàn quận H, Hà Nội. Sau đó T yêu cầu bà T1 chuyển tiếp

34.000.000 đồng để mua điện thoại Iphone 13 làm quà cảm ơn. Sau khi nhận tiền, T đã chiếm đoạt và sử dụng tiền để trả nợ, chi tiêu cá nhân hết.

Hành vi của Nguyễn Thị Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội, vì vậy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bà Ngô Thị Hồng T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 434.000.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà T1 nên buộc bị cáo phải bồi thường cho bà T1 số tiền 434.000.000 đồng

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 11(mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2024.
  2. Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Ngô Thị Hồng T1 số tiền 434.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn xin thi hành án của người bị hại nếu bị cáo không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 21.360.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

c

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thu P1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HSST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 39/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XX
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger