Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 39/2025/HS-ST

Ngày 05-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Vượng - Giáo viên hưu.
  2. Bà Ngô Thị Vân - Giáo viên hưu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 2 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lý Mạnh P, sinh ngày 24/12/2007.
  2. Quê quán: huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

    Nơi thường trú: Thôn Đồng Ẻn, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

    Nơi ở: Thôn Song Khê 1, xã Song Khê (nay là tổ dân phố Song Khê 1, phường Song Khê), thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

    Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.

    Con ông Lý Văn H, sinh năm 1972 và bà Vũ Thị M, sinh năm 1977; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ 2.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/8/2024 đến ngày 04/9/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

    (Có mặt tại phiên toà)

  3. Lý Văn H1, sinh ngày 26/10/2006.
  4. Quê quán: thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

    Nơi thường trú và nơi ở: Thôn T, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

    Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.

    Con ông Lý Văn L, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1977; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ 2.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/8/2024 đến ngày 04/9/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

    (Có mặt tại phiên toà)

  5. Triệu Phúc D, sinh ngày 24/6/2008.
  6. Quê quán: huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

    Nơi thường trú: Xóm Mỏ Sắt, xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

    Nơi ở: Thôn Yên Khê, xã Song Khê (nay là tổ dân phố Yên Khê, phường Song Khê), thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

    Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.

    Con ông Triệu Văn T, sinh năm 1980 và bà Triệu Thị T1, sinh năm 1980; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ 2.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

    (Có mặt tại phiên toà)

*Người bào chữa cho bị cáo Lý Mạnh P: Ông Nguyễn Văn T2 - Luật sư Văn phòng L2 thành phố B, Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số C, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Có mặt tại phiên toà)

*Người bào chữa cho bị cáo Triệu Phúc D: Ông Phạm Văn B - Luật sư Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số B, đường L, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang

(Có mặt tại phiên toà)

*Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lý Mạnh P: Bà Vũ Thị M, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên toà)

*Người đại diện hợp pháp của bị cáo Triệu Phúc D: Ông Triệu Văn T, sinh năm 1980, địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và bà Triệu Thị T1, sinh năm 1980, địa chỉ: Xóm M, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Triệu Văn T và bà Triệu Thị T1: chị Triệu Thị T3, sinh năm 1999, nơi thường trú: Thôn I, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: tổ dân phố Y, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Chị T3 có mặt tại phiên toà)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Cháu Đinh Quang M1, sinh ngày 11/11/2008;
  • Người đại diện hợp pháp của cháu M1: Ông Đinh Văn D1, sinh năm 1982.

    Nơi thường trú: Tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

    (Cháu M1 và ông D1 vắng mặt tại phiên toà)

  • Cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 24/02/2008;
  • Người đại diện hợp pháp của cháu H2: Ông Nguyễn Văn C sinh năm 1967.

    Nơi thường trú: TDP P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

    (Cháu H2 và ông C vắng mặt tại phiên toà)

  • Cháu Chu Đại Minh Đ, sinh ngày 17/11/2008.
  • Người đại diện hợp pháp của cháu Đ: Ông Chu Ngọc T4- sinh năm 1976

    Nơi thường trú: Thôn T, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội.

    (Cháu Đ và ông T4 vắng mặt tại phiên toà)

  • Cháu Lý Văn N, sinh ngày 05/3/2009; Nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở: Thôn V, xã Y, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • Người đại diện hợp pháp của cháu N: Chị Lý Thị M2, sinh năm 2005;

    Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

    (Cháu N và chị M2 vắng mặt tại phiên toà)

  • Cháu Lò Văn T5, sinh ngày 15/12/2007;
  • Người đại diện hợp pháp của cháu T5: Ông Lò Cò P1, sinh năm 1983;

    Nơi thường trú: Thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; Nơi ở: Tổ dân phố N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

    (Cháu T5 và ông P1 vắng mặt tại phiên toà)

  • Cháu Nguyễn Hưng P2, sinh ngày 12/5/2008;
  • Người đại diện hợp pháp của cháu P2: Ông Nguyễn Khắc D2, sinh năm 1974; Nơi thường trú: Tổ dân phố S, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

    (Cháu P2 và ông D2 vắng mặt tại phiên toà)

* Người làm chứng:

  • Cháu Đào Việt A, sinh ngày 24/11/2009;
  • Người đại diện hợp pháp của cháu Việt A: Ông Đào Văn H3, sinh năm 1985.

    Đều địa chỉ: Tổ dân phố S, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

    (Cháu Việt A và ông H3 vắng mặt tại phiên toà)

  • Ông Hoàng Minh C1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • (Ông C1 vắng mặt tại phiên toà)

  • Ông Dương Văn H4, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • (Ông H4 vắng mặt tại phiên toà)

  • Bà Nguyễn Thanh H5, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  • (Bà H5 vắng mặt tại phiên toà)

  • Bà Khổng Thị N1, sinh năm 1963 và ông Trịnh Văn K, sinh năm 1964; Đều địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • (Bà N1 và ông K vắng mặt tại phiên toà)

  • Cháu Nguyễn Hoàng H6, sinh ngày 21/4/2008;
  • Người đại diện hợp pháp của cháu H6: Bà Hoàng Thị Hồng T6, sinh năm 1981.

    Đều địa chỉ: Tổ dân phố L, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

    (Cháu H6 và bà T6 vắng mặt tại phiên toà)

  • Cháu Ninh Quang K1, sinh ngày 19/9/2010;
  • Người đại diện hợp pháp của cháu K1: Ông Ninh Văn Q, sinh năm 1975.

    Đều địa chỉ: Tổ dân phố S, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

    (Cháu K1 và ông Q vắng mặt tại phiên toà)

* Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi bị cáo Lý Mạnh P, Triệu Phúc D và người làm chứng là cháu Đào Việt A, cháu Nguyễn Hoàng H6, cháu Ninh Quang K1 sinh sống: Chị Lý Thị Thu H7 - Bí thư chi đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 5/2024, Triệu Phúc D, sinh ngày 24/6/2008 trú tại xóm M, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thuê trọ tại thôn G, phường N, thành phố B để làm công nhân khu công nghiệp V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. D có quen biết Lý Văn H1, sinh ngày 26/10/2006, trú tại thôn T, xã T, thị xã V; L, sinh ngày 24/12/2007, trú tại ở thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; Chu Đại Minh Đ, sinh ngày 17/11/2008 ở thôn T, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội; Lý Văn N, sinh ngày 05/3/2009 ở thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Lò Văn T5, sinh ngày 15/12/2007 ở thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Những người này đều đến tỉnh Bắc Giang để làm thuê trong các khu công nghiệp.

Buổi chiều ngày 25/8/2024, Triệu Phúc D nhờ H1, P, Đ, N, T5 và Nguyễn Thị Thu H8, sinh ngày 27/3/2008 ở thôn T, xã Đ, thành phố B giúp dọn đồ đạc để chuyển đến phòng trọ tại thôn Y, xã S (nay là tổ dân phố Y, phường S), thành phố B. Sau khi chuyển phòng xong, D mời mọi người đi uống bia. N đi xe máy đến đón bạn là Dương Thị H9, sinh ngày 15/11/2008 ở thôn T, xã Đ, thành phố B đến cùng ăn uống với mọi người. D và P đi mua thức ăn và bia để mọi người ăn uống. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của D đi đến bãi đất trống tại khu dân cư mới gần trụ sở UBND xã S (nay là phường S), thành phố B để ăn uống. Mọi người cùng nhau uống hết số bia đem theo và vẫn muốn uống tiếp nên N điều khiển xe mô tô BKS 34L5-5756 chở H1 đi mua thêm bia về uống.

Tại thời điểm này, Nguyễn Hưng P2, sinh ngày 12/5/2008 cùng nhóm bạn gồm Đào Việt A, sinh ngày 24/11/2009; Ninh Quang K1, sinh ngày 19/9/2010; Nguyễn Hoàng H6, sinh ngày 21/8/2008 đều trú tại xã S (nay là phường S), thành phố B; Đinh Quang M1, sinh ngày 11/11/2008; Nguyễn Minh H2, sinh ngày 24/02/2008 đều trú tại phường T, thị xã V đang ngồi uống nước tại quán trà đá “võng” của chị Nguyễn Thanh H5 tại vỉa hè đường H thuộc thôn T, xã T (nay là tổ dân phố T, phường T), thành phố B. Trong lúc nhóm của anh P2 đang ngồi uống nước thì nhìn thấy H6 điều khiển xe máy kèm N đi mua bia về. M1 nghe thấy tiếng xe máy của H6 nổ to nên tò mò và rủ H2 đuổi theo. M1 điều khiển xe mô tô chở H2 đuổi theo một đoạn thì không đuổi theo nữa mà quay lại quán nước.

Đối với Lý Văn H1 nhìn thấy có xe máy do M1 điều khiển chở H2 đi theo sau tưởng nhầm là bị đuổi đánh nên kể lại cho mọi người trong nhóm. Thấy vậy, Lý Mạnh P mở cốp xe mô tô BKS 20D1-036.81 lấy 01 con dao (loại dao mèo dài 45cm, chuôi dao bằng gỗ dài 17cm, lưỡi dao dài 28cm do P đem theo từ trước) rồi bảo Lý Văn H1 cùng đi tìm để đánh. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H1 điều khiển xe mô tô BKS 98B1-853.27 chở P ngồi sau cầm dao đuổi theo M1 và H2 nhưng không đuổi kịp. Khi đi đến quán trà đá “võng”, P nhìn thấy nhóm của anh P2 đang ngồi uống nước nên nghĩ là nhóm thanh niên đã đuổi theo xe của N trước đó. P cầm dao chỉ vào nhóm của anh P2 chửi và dọa đánh nhưng nhóm của anh P2 không nói gì. Sau đó, H1 chở P quay lại kể lại sự việc và rủ mọi người trong nhóm cùng đến quán nước để đánh. N bảo P đưa con dao cho N cầm. H1 điều khiển xe mô tô BKS 98B1-853.27 chở N ngồi sau cầm dao; P điều khiển xe mô tô BKS 20D1-036.81 chở D và Đ cùng đi đến quán nước. Trên đường đi, P tình cờ

gặp Lò Văn T5 điều khiển xe mô tô BKS 23L3-0267 đi trên đường. P nói với T5 là có nhóm thanh niên định đánh P và rủ T5 đi cùng thì T5 đồng ý và đi theo.

Khi nhóm của P đi đến quán nước thì thấy nhóm của anh P2 đang ngồi uống nước, nói chuyện trong quán. N xuống xe, cầm dao đi đến vị trí anh P2 đang ngồi, giơ dao chỉ vào mặt anh P2 dọa chém. P đi đến dùng tay phải đấm một cái vào má trái của anh P2. Anh P2 sợ nên bỏ chạy thì P cầm chiếc ghế nhựa tại quán ném theo nhưng không trúng; N cầm dao đuổi theo anh P2 để chém. Anh P2 chạy vòng quanh quán nước rồi chạy ra ngoài đường. Thấy vậy, H1 điều khiển xe máy đi một mình còn P điều khiển xe máy chở Đ và D đuổi theo; N cầm dao đuổi theo khoảng 15m thì ngồi lên xe máy của H1 đuổi theo anh P2. T5 đi xe máy theo sau nhóm của P. Anh P2 bỏ chạy vào nhà ông Trịnh Văn K, sinh năm 1964 ở thôn Y, xã S (nay là tổ dân phố Y, phường S), thành phố B để trốn. Nhóm của P đuổi theo đến cổng nhà ông K thì dừng lại. D nhặt 01 viên gạch còn N cầm dao rồi cùng H1, Đ chạy vào nhà ông K tìm anh P2 để đánh. T5 đi xe đến cổng nhà ông K thì dừng lại và đứng ở ngoài cổng. D vứt viên gạch xuống sân nhà ông K và đứng chắn ở cửa. N, H1, Đ, P chạy vào trong nhà thì nhìn thấy anh P2 đứng ở gần cầu thang. N cầm dao chỉ vào mặt anh P2 và chửi, đe doạ. H1 dùng tay đấm 1 cái vào vai trái anh P2 còn Đ dùng tay đấm 1 cái vào má trái của anh P2. N kề dao vào cổ anh P2 dọa chém. Thấy vậy, P ôm và kéo N ra. N dùng tay trái túm cổ áo anh P2 còn tay phải chém phần sống dao về phía anh P2. Khi anh P2 giơ tay trái lên đỡ thì bị phần mũi dao trúng vào gò má trái còn lưng dao trúng khuỷu tay trái làm anh P2 bị thương chảy máu. Sau đó, ông K can ngăn nên nhóm của P không đánh anh P2 nữa và ra về.

Sau khi sự việc xảy ra, UBND xã S (nay là phường S) và UBND xã T (nay là phường T), thành phố B đã có văn bản đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thành phố B xử lý các đối tượng về hành vi gây rối trật tự công cộng vì gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn.

Cơ quan điều tra xác định hiện trường xác định: Vị trí các đối tượng đuổi đánh anh P2 tại quán trà đá “võng” ở đường H, thôn T, xã T (nay là tổ dân phố T, phường T), thành phố B và tầng hầm của gia đình ông Trịnh Văn K ở thôn Y, xã S (nay là tổ dân phố Y, phường S), thành phố B. Tại vị trí trước cửa nhà ông K có phát hiện và thu giữ 01 viên gạch kích thước (20,5x9,5x8)cm.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 02 file video trích xuất tại camera của gia đình ông Trịnh Văn K ghi lại hình ảnh liên quan vụ việc.

Kết luận giám định số 1964/KL-KTHS ngày 13/9/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD-R gửi giám định.
  2. Trích xuất được 16 (mười sáu) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong 02 file video gửi giám định.

Cơ quan điều tra cho các bị cáo Lý Mạnh P, Lý Văn H1, Triệu Phúc D và Chu Đại Minh Đ, Lý Văn N quan sát 02 file video nêu trên. Những người nêu trên đều xác nhận có hình ảnh H1 đi xe máy kèm N ngồi sau cầm dao; hình ảnh P điều khiển xe máy chở Đ và D ngồi sau truy đuổi anh P2; hình ảnh D nhặt 01 viên gạch ở cổng rồi đi vào nhà ông K; hình ảnh P, N cầm dao, Đ đi vào nhà ông K để tìm đuổi đánh anh P2.

Cơ quan điều tra cho các bị cáo P, H1 nhận dạng ảnh của nhau và nhận dạng ảnh anh Nguyễn Hưng P2. Kết quả các bị cáo đều nhận đúng ảnh và xác định có hành vi đuổi đánh P2 vào ngày 25/8/2024.

Cơ quan điều tra cho H1, D, P, Đ, N thực nghiệm điều tra. Kết quả, N thực hiện động tác cầm dao chỉ về phía anh P2 dọa chém, truy đuổi P2 từ quán nước đến nhà ông K, cầm dao kề vào cổ anh P2 và chém sống dao về phía mặt anh P2. Bị cáo P thực hiện động tác dùng tay đấm, dùng ghế ném anh P2 tại quán nước, đuổi theo và đấm anh P2 tại tầng hầm nhà ông K. Bị cáo Duy thực H10 động tác đuổi theo anh P2 từ quán nước, nhặt 01 viên gạch ở cổng và đuổi theo P2 đến tầng hầm nhà ông K thì vứt ở cửa. Đ đuổi theo P2 từ quán nước và dùng tay đấm P2 tại tầng hầm nhà ông K.

Đối với anh Nguyễn Hưng P2 bị Lý Văn N chém gây thương tích. Anh P2 xác định bị thương phần mềm ở khuỷu tay trái và má trái nên tự nguyện từ chối giám định và không đề nghị gì.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của P xe mô tô BKS 20D1-036.81 và 01 con dao bằng kim loại dài 45cm. Thu giữ của H1 xe mô tô BKS 98B1-853.27.

Kết quả điều tra xác định: Xe mô tô BKS 20D1-036.81 là của bà Vũ Thị M, sinh năm 1977 là mẹ của bị cáo P; xe mô tô BKS 98B1-853.27 là của bà Hoàng Thị M3, sinh năm 1949 ở thôn T, xã T, thị xã V là bà nội của bị cáo H1. Bà M và bà M3 có hành vi giao xe cho người chưa thành niên điều khiển vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng chuyển 02 xe mô tô trên đến đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố B để xử phạt theo thẩm quyền.

Đối với viên gạch thu giữ tại nhà ông K và con dao thu giữ của bị cáo P được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Về xử lý các đối tượng liên quan trong vụ án:

Đối với Chu Đại Minh Đ, sinh ngày 17/11/2008; Lý Văn N, sinh ngày 05/3/2009 tham gia đuổi đánh anh Nguyễn Hưng P2 nhưng đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Lò Văn T5 điều khiển xe mô tô đi theo sau nhóm của P đến cổng nhà ông K thì dừng lại và đứng ở cổng; không tham gia đuổi, đánh anh P2 nên không đồng phạm về tội Gây rối trật tự công cộng.

*Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 05 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

*Tại phiên tòa hôm nay:

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

Những người đại diện hợp pháp của các bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của các bị cáo.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 124, khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Lý Mạnh P từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn H1 từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 02 năm 08 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H1 cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Triệu Phúc D từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 02 năm 08 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân

phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  • Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 viên gạch kích thước (20,5x9,5x8)cm và 01 con dao bằng kim loại, dài 45cm, bị han gỉ, đã qua sử dụng, chuôi dao bằng gỗ, dài 17cm, được bọc 04 thanh kim loại màu vàng, lưỡi dao dài 28cm, bản rộng nhất 4,5cm; 01 viên gạch kích thước (20,5x9,5x8)cm.
  • Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo P và bị H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo D là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

*Người bào chữa cho bị cáo P và bị cáo D đều nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố, nhất trí với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, trong vụ án này, các bị cáo khi thực hiện hành vi đều chưa đủ 18 tuổi, nhận thức về pháp luật chưa đầy đủ nên mới hành động nông nổi. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi của bản thân, đã bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hưng P2. Cháu Nguyễn Hưng P2 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Do các bị cáo đều có nhân thân tốt, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng án treo để các bị các có cơ hội cải sửa bản thân.

*Bị cáo P, bị cáo D và những người đại diện hợp pháp của các bị cáo nhất trí với trình bày của những người bào chữa cho các bị cáo.

*Bị cáo H1 không có ý kiến gì tranh luận.

*Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của bản thân là sai, đề nghị Hội đồng xét xử cho được án treo để có cơ hội cải sửa sai, trở thành công dân có ích của xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Buổi tối ngày 25/8/2024, Lý Mạnh P, Triệu Phúc D, Lý Văn H1, Chu Đại Minh Đ, Lý Mạnh N2 và một số bạn đi đến bãi đất trống tại khu dân cư mới gần trụ sở UBND xã S, thành phố B uống bia. Mọi người cùng nhau uống hết số bia đem theo nên N2 điều khiển xe mô tô BKS 34L5-5756 chở H1 đi mua thêm bia về uống. Thời điểm này, nhóm của anh Nguyễn Hưng P2 đang ngồi tại quán nước của chị Nguyễn Thị H11 tại vỉa hè đường H, thôn T, xã T, thành phố B. Trong lúc nhóm của anh P2 đang ngồi uống nước thì nhìn thấy H1 điều khiển xe máy kèm N2 đi mua bia về. Đinh Quang M1 nghe thấy tiếng xe máy của H1 nổ to nên điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Minh H2 đuổi theo một đoạn thì không đuổi theo nữa mà quay lại quán nước. N2 tưởng nhầm bị đuổi đánh nên kể lại cho mọi người biết sự việc. H1 điều khiển xe mô tô chở P cầm dao đi đến quán nước. P cầm dao chỉ vào nhóm của anh P2 chửi và dọa đánh.

Sau đó, nhóm của P bàn với nhau đến quán nước đánh nhóm của anh P2. Trong đó, N2 cầm dao đuổi chém anh P2; P đấm anh P2 và dùng ghế nhựa ném. Anh P2 bỏ chạy vào nhà ông Trịnh Văn K ở thôn Y, xã S, thành phố B để trốn thì H1 điều khiển xe chở N2 cầm dao; P điều khiển xe chở D và Đ đuổi theo. D nhặt 1 viên gạch ở ngoài cổng chạy đuổi theo anh P2 rồi vứt ở trước cửa nhà. N2 cầm dao kề cổ và chém anh P2 còn P và Đ đấm anh P2. Hậu quả làm anh P2 bị thương ở khuỷu tay trái và má trái nhưng từ chối giám định thương tích.

Hành vi của các bị cáo Lý Mạnh P, Triệu Phúc D, Lý Văn H1 gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi phạm tội. Đối với Chu Đại

Minh Đ và Lý Văn N chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã xử phạt vi phạm hành chính.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo:

[4.1] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này.

[4.2] Về vai trò các bị cáo: Các bị cáo cùng cố ý phạm tội nhưng không có dấu hiệu tổ chức, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc và phân công nhiệm cụ thể nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo P có vai trò cao nhất trong vụ án: là người khởi sướng, cầm dao doạ đánh nhóm Nguyễn Hưng P2, trực tiếp đấm vào mặt P2. Bị cáo H1 và bị cáo D là những người giúp sức (H1 lái xe chở các bị cáo khác đuổi theo nhóm P2, D ngồi cùng xe với P), không trực tiếp gây thương tích cho ai nên có vai trò thấp hơn bị cáo P.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo không có nhân thân và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Hưng P2 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho UBND xã, phường nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.

[7] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.

[8] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch kích thước (20,5x9,5x8)cm và 01 con dao bằng kim loại, dài 45cm, bị han

gỉ, đã qua sử dụng, chuôi dao bằng gỗ, dài 17cm, được bọc 04 thanh kim loại màu vàng, lưỡi dao dài 28cm, bản rộng nhất 4,5cm, 01 viên gạch kích thước (20,5x9,5x8)cm là công cụ phạm tội của các bị cáo và là vật không còn giá trị sử dụng.

[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo P và bị H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo D là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Đối với Lò Văn T5 điều khiển xe mô tô đi theo sau nhóm của P đến cổng nhà ông K thì dừng lại và đứng ở cổng; không tham gia đuổi, đánh anh P2 nên không đồng phạm về tội Gây rối trật tự công cộng. Đối với Chu Đại Minh Đ, sinh ngày 17/11/2008; Lý Văn N, sinh ngày 05/3/2009 tham gia đuổi đánh anh Nguyễn Hưng P2 nhưng đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 124, khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Lý Mạnh P 01(một) năm 08(tám) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử là 03(ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn H1 01(một) năm 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 03(ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H1 cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Triệu Phúc D 01(một) năm 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 03(ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  4. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
  5. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch kích thước (20,5x9,5x8)cm và 01 con dao bằng kim loại, dài 45cm, bị han gỉ, đã qua sử dụng, chuôi dao bằng gỗ, dài 17cm, được bọc 04 thanh kim loại màu vàng, lưỡi dao dài 28cm, bản rộng nhất 4,5cm, 01 viên gạch kích thước (20,5x9,5x8)cm.
  6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo P và bị H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND TP.Bắc Giang.
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - TAND tỉnh Bắc Giang.
  • - Phòng HSNV, Công an tỉnh Bắc Giang.
  • - Chi cục THADS TP. Bắc Giang.
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án.
  • - UBND p.Song Khê, TP.Bắc Giang, Bắc Giang;
  • - UBND x.Tiên Sơn, TX.Việt Yên, Bắc Giang;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 39/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Mạnh P "gây rối trật tự công cộng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger