Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 39/2025/DS-PT

Ngày 04 - 03 - 2025

“V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất và tranh

chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang

Ông Phạm Văn Tú

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Ông Lương Thất T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 267/2024/TLPT-DS ngày 12/12/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 21/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 16/2025/QĐ-PT ngày 03/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐ-PT ngày 17/01/2025, quyết định hoãn phiên toà số 26/2025/QĐST-DS ngày 17/02/2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Triệu Thị K, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Triệu Thị K: Ông Đồng Duy C- Luật sư của Văn phòng L1 cùng cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

2. Đồng bị đơn:

  • + Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; Cùng địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  • + Ông Triệu Minh T2, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm: 1958; Cùng địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Phạm Văn M, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  • + Anh Triệu Văn C1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  • + Anh Phạm Văn H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  • + Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
  • + Ủy ban nhân dân xã T, huyện L.

Đại diện theo pháp luật: Bà Đồng Thị B, chức vụ: Chủ tịch UBND; địa chỉ: Xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

  • + Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đại diện theo pháp luật: ông Đặng Văn N, chức vụ: Chủ tịch UBND huyện; địa chỉ: thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện L: Ông Đào Quang D, chức vụ: Cán bộ Phòng Tài nguyên và môi trường huyện L theo Giấy ủy quyền ngày 20/6/2024 (vắng mặt).

Người kháng cáo: Bà Triệu Thị K – Nguyên đơn; Ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 21/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, nội dung vụ án như sau:

* Nguyên đơn là bà Triệu Thị K trình bày: Năm 2002, giữa bà và vợ chồng ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 có thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất. Theo đó, ông T2 và bà T3 chuyển nhượng cho bà diện tích đất lâm nghiệp 20.000m² nằm trong tổng diện tích 60.500m² thuộc thửa số 06, tờ bản đồ K14. Thửa đất đã được Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 531432, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 00436/ số 4022/QĐ-UBND ngày 24/10/2006 mang tên ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3; địa chỉ thửa đất ở K, thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vị trí thửa đất có diện tích 20.000m² bà nhận chuyển nhượng của ông T2 và bà T3 có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Đông giáp ruộng sản của gia đình ông bà Huyền M1; phía Tây giáp với đất lâm nghiệp của tỉnh Quảng Ninh; phía Nam giáp với đập D (Lòng Khe); phía Bắc giáp với ruộng của gia đình ông Triệu Minh T2. Thời điểm bà nhận chuyển nhượng diện tích đất này của vợ chồng ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3, các con bà còn nhỏ, không liên quan đến các con, bà ly hôn từ những năm 1984 nên không liên quan đến chồng cũ của bà.

Ngày 26/6/2002, bà và vợ chồng ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 có lập Giấy chuyển nhượng rừng sản xuất viết tay. Hai bên thỏa thuận vợ chồng ông T2 chuyển nhượng cho bà diện tích 20.000m² đất lâm nghiệp với giá 3.000.000 đồng. Khi hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng có bà Triệu Thị V và ông Vũ Văn H1 là hàng xóm chứng kiến. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, vợ chồng ông T2 đã bàn giao đất lâm nghiệp cho bà sử dụng, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn và không hiểu biết pháp luật nên hai bên không đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà đã trực tiếp khai thác và sử dụng diện tích 20.000m² đất lâm nghiệp vào việc trồng cây bạch đàn từ năm 2002. Sau này khi con trai bà là anh Phạm Văn M lớn thì anh M là người trực tiếp quản lý và sử dụng. Năm 2006, anh M kết hôn với chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1988 (là con gái ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L). Năm 2011, bà phát hiện ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L tự ý xây nhà 02 tầng có diện tích khoảng 150m², nhà ăn, nhà bếp, nhà vệ sinh và sân thềm trên diện tích khoảng 700m², nằm trong diện tích 20.000m² đất lâm nghiệp của bà mà không hỏi ý kiến bà. Bà đã nhiều lần yêu cầu ông T1 và bà L phải chấm dứt hành vi xây nhà và canh tác trên đất của bà nhưng ông T1, bà L vẫn cố tình thực hiện hành vi lấn chiếm đất của bà. Bà đã làm đơn nhiều lần gửi đến UBND xã T để giải quyết nhưng không có kết quả. Bà đề nghị Tòa án đo đạc để xác định cụ thể diện tích tranh chấp và đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • + Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/6/2002 giữa bà và vợ chồng ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 có hiệu lực pháp luật.
  • + Buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho bà diện tích đất lâm nghiệp khoảng 700m² và tháo dỡ các công trình nằm trên diện tích 700m² đất lâm nghiệp.

Ngoài ra, bà Triệu Thị K không còn yêu cầu nào khác.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L trình bày: Ngày 26/6/2002, vợ chồng ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 có làm giấy chuyển nhượng rừng sản xuất 02 cho bà Triệu Thị K với diện tích đất rừng là 2ha. Theo giấy chuyển nhượng thì giá thỏa thuận giữa hai bên là 3.000.000 đồng. Diện tích 2ha đất rừng này nằm trong tổng diện tích 6ha đất rừng mà ông T2, bà T3 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng đất của ông T2, bà T3 thì bà K chưa khai thác gì, vẫn để nguyên trạng là đất rừng. Hai bên chưa đi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Ngày 10/02/2008, giữa ông, bà và bà K đã làm giấy chuyển nhượng đất vườn, theo đó thì bà K chuyển nhượng cho ông, bà 800m² đất rừng nằm trong tổng diện tích 2ha mà bà K đã mua của ông T2, bà T3 năm 2002 với giá 500.000 đồng (Trong giấy chuyển nhượng ghi nhầm là 500 đồng). Ông, bà là người viết giấy, bà K ký nhận bên người nhượng, ông, bà (T2) ký bên người được nhượng. Diện tích 800m² nhận chuyển nhượng có các vị trí tiếp giáp như sau: Một phía giáp suối nước, một phía giáp ruộng của gia đình ông, bà; hai phía còn lại giáp thửa đất của bà K. Sau khi nhận chuyển nhượng đất của bà K thì ông, bà đã cải tạo thửa đất để làm nhà ở. Hiện nay trên diện tích 800m² này có các công trình gồm: 01 nhà 02 tầng có diện tích 150m²/ 1 sàn, kiểu nhà mái thái, đổ trần 02 tầng và lớp tôn chống nóng, xây dựng năm 2010; 01 nhà ngói 03 gian xây dựng năm 2008 có diện tích khoảng hơn 20m²; 01 sân bê tông có diện tích khoảng 150m², làm năm 2010; 01 mái lợp tôn có diện tích khoảng 20m² để làm nhà xe; Xây tường bê tông xung quanh.

Từ năm 2008, ông, bà trực tiếp sử dụng diện tích đất này, do không hiểu biết về pháp luật nên giữa hai bên không đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhau. Ông, bà đã sử dụng đất ổn định và xây dựng các công trình kiên cố từ năm 2008 nhưng bản thân bà K cũng như địa phương cũng không có ý kiến gì. Năm 2021, do có nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng S, M đã giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Lục Nam. Từ đó bà K đã đến gia đình ông, bà để đòi lại diện tích đất 800m² và cho rằng gia đình ông, bà tự ký vào giấy chuyển nhượng, bà K không thừa nhận chuyển nhượng thửa đất trên cho gia đình ông, bà. Bà K đã nhiều lần làm đơn đến UBND xã T để giải quyết nhưng giữa các bên không thỏa thuận được việc giải quyết toàn bộ vụ án. Nay, bà K khởi kiện yêu cầu ông, bà trả lại toàn bộ diện tích đất này, ông, bà không đồng ý vì ông, bà đã nhận chuyển nhượng của bà K nên thuộc quyền sử dụng của ông, bà. Ngoài ra, ông T2 và bà L không có ý kiến nào khác.

* Bị đơn ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3 trình bày: Ông, bà được Nhà nước giao cho khai thác và sử dụng 60.500m² đất rừng từ khoảng năm 1990. Đến khoảng năm 1993 thì được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất rừng dạng sổ xanh. Năm 2006, UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 531432, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 00436/ Số: 4022/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2006 đối với thửa đất số 06, tờ bản đồ K14 có diện tích 60.500m², mục đích sử dụng là đất lâm nghiệp, địa chỉ thửa đất ở thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, mang tên ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3. Từ khi được Nhà nước giao cho sử dụng thửa đất trên, ông, bà đã sử dụng vào mục đích trồng cây bạch đàn.

Ông, bà và bà Triệu Thị K có mối quan hệ hàng xóm. Do có mục đích bán một phần diện tích đất rừng, thấy bà K có nhu cầu mua để sử dụng nên khi bà K đặt vấn đề mua đất, ông, bà đã đồng ý bán cho bà K. Hai bên thỏa thuận ông, bà bán cho bà K 2ha đất rừng (20.000m²) với giá 3.000.000 đồng. Ngày 26/6/2002, hai bên lập “Giấy chuyển nhượng rừng sản xuất 02” do ông Triệu Minh T2 là người viết, ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3 ký nhận bên phần người chuyển nhượng, bà Triệu Thị K ký nhận bên phần người được chuyển nhượng, bà Triệu Thị V và ông Vũ Văn H1 là người cùng thôn ký nhận bên người làm chứng. Diện tích đất rừng chuyển nhượng cho bà K có vị trí như sau: về phía trên đỉnh rừng tiếp giáp với rừng Quảng Ninh; về phía dưới chân nương (chân rừng) tiếp giáp với ruộng của gia đình ông, bà và ruộng của vợ chồng chị H2, anh M1; dọc thẳng là khe nước chảy từ trên đỉnh núi xuống; phía bên phải lòng khe tiếp giáp với rừng sản xuất 02 của gia đình bà T4; dưới chân mương nước của 2ha chuyển nhượng cho bà K là đất của ông T2, T3 có khoảng 1,2 sào ruộng bám sát chân mương, liền kề với chân mương của 2ha chuyển nhượng cho bà K. Ông, bà cùng bà K đã ra thực địa để bàn giao đất cho nhau và thống nhất từng vị trí, trực tiếp đo đạc (nhờ ông Tô Văn T5 là tổ trưởng tổ bảo vệ rừng đo đạc giúp). Từ năm 2002 đến nay, hai bên không đến các cơ quan nhà nước để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định mà chỉ có biên bản viết tay như vậy. Lý do là hai bên khó khăn và cũng không hiểu biết pháp luật, chỉ nghĩ đơn giản là viết tay và cùng ký nhận là được. Việc chuyển nhượng đất rừng giữa ông, bà và bà K là hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc gì. Sau khi chuyển nhượng xong, gia đình bà K trực tiếp sử dụng 2ha rừng ông, bà đã chuyển nhượng và từ đó đến nay giữa hai bên không xảy ra tranh chấp gì.

Ông, bà có biết giữa bà Triệu Thị K và ông Nguyễn Văn T1 có xảy ra tranh chấp với nhau về lối đi từ dưới đường lên diện tích đất rừng ông, bà đã chuyển nhượng cho bà K. Đây là lối đi đã có từ trước và là lối đi lên rừng của các gia đình gồm: gia đình ông bà, gia đình bà T4, gia đình ông B, gia đình ông T7, gia đình ông T cùng sử dụng chung. Năm 2021, gia đình ông Nguyễn Văn T1 đã xây dựng cổng thành lối đi riêng của gia đình ông T1. Các gia đình sử dụng lối đi chung này đều có ý kiến với gia đình ông T1, có ý kiến với thôn, với xã nhưng ông T1 không tháo dỡ. Nay, bà K khởi kiện thì ông, bà có ý kiến như sau:

  • + Ông, bà đồng ý tiếp tục chuyển nhượng cho bà K diện tích 2ha đất rừng và đề nghị Tòa án giải quyết Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/6/2002 giữa ông, bà là Triệu Minh T2, Nguyễn Thị T3 và bà Triệu Thị K có hiệu lực pháp luật.
  • + Đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L phải trả lại lối đi chung cho các hộ gia đình và trả lại diện tích đã tranh chấp của gia đình bà K theo yêu cầu khởi kiện của bà K và theo kết quả đo đạc thực tế. Ngoài ra, ông Triệu Văn T6 và Nguyễn Thị T3 không còn ý kiến nào khác, không làm đơn khởi kiện.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án trình bày:

Anh Phạm Văn M trình bày: Về phần diện tích đất bà K nhận chuyển nhượng của ông T6, bà T3, anh trình bày thống nhất với lời khai của bà Triệu Thị K, ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, gia đình anh đã trồng cây vải khu bên dưới chân rừng, bên trên trồng bạch đàn và keo. Khoảng năm 2009 – 2010, anh có làm nhà tại phần diện tích đất rừng này để trực tiếp canh tác. Đến khoảng năm 2011 - 2012, anh có đổi diện tích đất trong phần diện tích 2ha mà mẹ anh mua của ông T2, bà T3 và một phần ruộng để lấy vườn vải của ông T2, bà L giáp với nhà cũ của anh. Phần đất anh đổi có diện tích bao nhiêu anh không nhớ, anh và ông T2, bà L chỉ áng chừng và thỏa thuận miệng với nhau, không lập văn bản gì. Lúc đổi đất, mẹ anh và các em anh không biết. Sau khi đổi, ông T2 và bà L đã san gạt phần đất rừng anh đổi để làm nhà, còn anh tiếp tục canh tác vườn vải. Thời điểm này, mẹ anh cùng các em anh mới biết sự việc trên, mẹ anh có ý kiến, lúc đó anh nói việc thoả thuận của anh và ông T2, bà L. Năm 2021 anh và chị S ly hôn, ông T2 và bà L tự canh tác, thu hoạch vườn vải mà ông T2 và bà L đã đổi cho anh, anh có nói chuyện nhưng ông, bà không thừa nhận đã đổi đất. Sau đó xảy ra tranh chấp, gia đình anh đã làm đơn lên Ban Q, UBND xã T để hòa giải, tuy nhiên, việc hòa giải không có hiệu quả. Nay anh đề nghị Tòa án xem xét, chấp nhận đơn yêu cầu của mẹ anh là bà Triệu Thị K. Anh xác định mẹ anh không chuyển nhượng đất cho ông T2, bà L. Ngoài ra, anh M không có ý kiến nào khác.

* Anh Triệu Văn C1 và anh Phạm Văn H cùng trình bày: Năm 2002, mẹ anh là bà Triệu Thị K có mua diện tích đất rừng 20.000m² trong tổng diện tích 60.500m² đất rừng được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO621432 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H00436 ngày 24/01/2006 mang tên ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3. Sau khi mua xong mẹ anh trực tiếp canh tác sử dụng. Đến khi anh M kết hôn với chị X thì mẹ anh có cho anh M, chị X canh tác đất rừng. Khoảng năm 2011, 2011 anh M tự ý đổi phần đất rừng có diện tich 813,5m² nằm trong phần diện tích đất mẹ anh đã mua của ông T2, bà T3. Việc đổi đất không lập biên bản gì và do anh M tự ý đổi, không bàn bạc với gia đình. Khi ông T2, bà L xây nhà trên đất thì gia đình anh mới biết sự việc. Năm 2021 anh M và chị X ly hôn, sau đó ông T2, bà L đã đòi lại diện tích vườn vải đã đổi cho anh M. Do ông T2, bà L đòi lại thửa đất vườn vải đã đổi cho anh M mà không trả lại diện tích đất của nhà anh nên mẹ anh đã làm đơn khởi kiện ông T2, bà L. Anh C1 và anh H nhất trí yêu cầu khởi kiện của bà K và không có ý kiến nào khác.

* Chị Nguyễn Thị X trình bày: Đầu năm 2006, chị kết hôn với anh Phạm Văn M là con trai của bà Triệu Thị K. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sinh sống cùng gia đình nhà chồng một thời gian ngắn rồi ra ở riêng ngay tại thửa đất của gia đình bà K. Đến cuối năm 2020, do mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục nên anh chị đã ly hôn tại Tòa án. Chị được biết năm 2002, bà K có mua lại của vợ chồng ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 cùng thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang một thửa đất rừng có diện tích khoảng 20.000m² trong tổng diện tích đất rừng có diện tích hơn 60.000m² thuộc khoảnh 14, xã T, huyện L. Giá chuyển nhượng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Ngày 10/02/2008, bà K đã chuyển nhượng cho bố mẹ đẻ chị là ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị L một phần diện tích đất khoảng 800m² trong tổng số 20.000m² đất đã mua của vợ chồng ông T2, bà T3. Giá chuyển nhượng là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Thửa đất chuyển nhượng có vị trí: Một phía giáp suối nước, một phía giáp ruộng của ông T2, bà T3, hai phía còn lại giáp với thửa đất của bà K. Việc mua bán này được hai bên lập thành văn bản (giấy viết tay) có tiêu đều “Giấy chuyển nhượng đất vườn” có chữ ký của bà K và ông T2. Tại thời điểm lập giấy chuyển nhượng đất vườn, bà K có đưa cho ông T2, bà L bản phô tô Giấy chuyển nhượng lại vườn và đất ngày 26/6/2002 do ông Triệu Minh T2 viết và ký. Sau khi nhận chuyển nhượng 800m² đất rừng từ bà K, khoảng cuối năm 2008, ông T2 và bà L xây dựng căn nhà cấp 4; năm 2010 – 2011, ông T2, bà L xây dựng căn nhà 02 tầng, đổ bê tông cốt thép như hiện nay. Trong quá trình sinh sống và xây dựng nhà tại thửa đất này, bà K nhiều lần qua thăm hỏi, năm 2011 khi hoàn thiện nhà, ông T2, bà L làm tân gia mời xóm làng, thông gia (trong đó có bà K) đến dự. Trong suốt thời gian hơn 15 năm chung sống với anh M, chị chưa thấy bà K có ý kiến khiếu nại, tranh chấp gì đối với thửa đất 800m² mà ông T2, bà L đang quản lý sử dụng, chỉ đến khi chị và anh M ly hôn thì bà K mới có yêu cầu đòi lại thửa đất này. Ngoài ra, chị X không trình bày gì thêm.

* Ủy ban nhân dân xã T, huyện L do bà Đồng Thị B - Chủ tịch UBND xã T đại diện theo pháp luật trình bày: Thửa đất tranh chấp hiện nay có nguồn gốc là của ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3 đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đất lâm nghiệp) số AO 521432, số vào sổ cấp GCN: H 00436 ngày 24/10/2006 đối với thửa đất số 06, tờ bản đồ K14 có diện tích 60.500m², địa chỉ tại thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Năm 2002, ông T2 và bà T3 chuyển nhượng cho bà K 20.000m² đất lâm nghiệp nằm trong tổng diện tích 60.500m² của ông T2, bà T3. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình bà K sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp. Sau này giữa gia đình bà K và đình ông T2, bà L có đổi đất với nhau như thế nào thì UBND xã không nắm được. Thực tế, gia đình ông T2, bà L đã sử dụng một phần đất nằm trong tổng 20.000m² đất của bà K từ những năm 2011, ông T2, bà L đã xây dựng nhà ở là công trình kiên cố và sử dụng ổn định từ 2011 đến trước thời điểm xảy ra tranh chấp là năm 2022. Khi ông T2, bà L xây dựng công trình nhà ở, các bên không có ý kiến gì. Giữa bà K và vợ chồng ông T2, bà T3 không đến UBND xã T để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau này, gia đình ông T2, bà L cũng không đến UBND xã để làm thủ tục gì.

Đối với công trình nhà ở cùng các công trình phụ của ông T2 và bà L đã được xây dựng từ năm 2011 trên diện tích đất lâm nghiệp. Từ khi gia đình ông T2, bà L xây dựng công trình đến nay, UBND xã chưa lập biên bản để xử lý vi phạm. Theo Chỉ thị số 19 ngày 11/6/2020 thì các công trình kiên cố được xây dựng trên đất rừng sản xuất từ 2014 trở về trước sẽ được xem xét để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất ở và giữ nguyên công trình. Diện tích đất rừng hiện nay ông T2, bà L xây dựng nhà ở và các công trình phụ phù hợp với quy hoạch và đủ điều kiện xem xét để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Nhà nước thu tiền sử dụng đất. Trường hợp Tòa án giải quyết vụ án thì đề nghị Tòa án tiếp tục giao thửa đất cùng các công trình gắn liền với đất cho gia đình ông T2, bà L sử dụng. Trường hợp phải trả lại cho bà K thửa đất thì giải quyết theo hướng trả cho bà K giá trị bằng tiền chứ không buộc tháo dỡ công trình gắn liền với đất. Ngoài ra, bà Đồng Thị B không còn ý kiến nào khác.

* Ủy ban nhân dân huyện L do ông Đào Quang D đại diện theo ủy quyền trình bày: Diện tích đất tranh chấp 813,5m² nằm trong tổng diện tích 60.500m² đất lâm nghiệp thuộc thửa đất số 06, tờ bản đồ K14, địa chỉ ở thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO521432, sổ vào sổ cấp GCN H00436 ngày 24/10/2006 mang tên ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3. Quá trình sử dụng diện tích đất lâm nghiệp này, các bên chuyển nhượng đất cho nhau và sử dụng từ năm nào thì ủy ban huyện không được biết. Theo sự thừa nhận của các đương sự thì ông T2, bà T3 đã chuyển nhượng cho bà K 20.000m² và diện tích ông T2, bà L đang sử dụng nằm trong diện tích 20.000m² mà bà K mua của ông T2, bà T3. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, các bên vẫn chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá trình ông T2, bà L sử dụng diện tích đất lâm nghiệp này có xây dựng công trình kiên cố gắn liền với đất. Việc xây dựng công trình trên đất lâm nghiệp của ông T2, bà L là vi phạm. Tuy nhiên, cho đến nay địa phương chưa lập biên bản xử lý vi phạm đối với hành vi này. Theo chỉ thị số 19 ngày 11/6/2020 của UBND tỉnh B thì các công trình xây dựng kiên cố trên đất rừng sản xuất từ 2014 trở về trước thì sẽ được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất ở và giữ nguyên các công trình trên đất. Diện tích đất lâm nghiệp mà ông T2, bà L đã xây dựng công trình kiên cố là phù hợp với quy hoạch và đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích nhà nước thu tiền sử dụng đất. Trường hợp Tòa án giải quyết vụ án, đề nghị giải quyết theo hướng giữ nguyên công trình trên đất, không buộc tháo dỡ, nếu phải bồi thường thì bồi thường giá trị bằng tiền. Đối với số liệu đo đạc thực tế, đề nghị Tòa án sử dụng kết quả đo đạc thực tế tại thời điểm giải quyết vụ án vì hiện nay thiết bị đo đạc đã hiện đại và chính xác hơn. Ngoài ra, ông Đào Quang D không còn ý kiến nào khác.

*Những người làm chứng trình bày:

- Ông Triệu Minh H3- trưởng thôn V, xã T, huyện L trình bày: Việc bà K mua đất của ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3 ông không được rõ. Tuy nhiên, sau khi có các buổi hòa giải, cũng như nghe ý kiến của các bên thì ông biết bà K đã mua một phần diện tích đất rừng 20.000m² trong tổng số 60.500m² đất rừng của ông T2, bà T3 đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông T2 và bà T3. Việc mua bán được 2 bên lập giấy viết tay năm 2002. Bà K và ông T2, bà L có thỏa thuận sử dụng đất như thế nào ông không biết.

- Ông Vũ Trí T7, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trình bày: Ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị L được Nhà nước giao cho quyền sử dụng diện tích 60.500m² đất rừng ở khu K, thôn V, xã T và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2022, ông T2, bà T3 có chuyển nhượng cho bà K 20.000m² nằm trong tổng diện tích 60.500m² đất rừng của gia đình, vị trí tiếp giáp như sau: Phía bắc giáp đường đi của thôn; Phía Đông giáp đường đi của thôn; Phía Tây giáp rừng Quảng Ninh; Phía Nam giáp đường tỉnh lộ 345. Sau khi nhận chuyển nhượng của ông T2, bà T3 thì bà K đã canh tác, trồng bạch đàn và keo. Khi nhận chuyển nhượng, giữa hai bên có lập biên bản viết tay ngày 26/6/2002 là Giấy chuyển nhượng đất rừng sản xuất 02. Sau khi lập biên bản, bà K có đề nghị ông xác nhận và ông đã đồng ý xác nhận với nội dung: “Bản Vua Bà xác nhận: Nội dung giấy chuyển nhượng của ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3 là công dân bàn Vua Bà, xã T chuyển nhượng cho bà Triệu Thị K cùng là công dân bàn Vua Bà diện tích (2ha) rừng (02) tại thôn V, xã T là đúng. Kính chuyển các cấp, các ngành xem xét tạo điều kiện làm thủ tục cho gia đình trên sử dụng”, chữ ký tại Giấy chuyển nhượng ngày 26/6/2002 là đúng của ông.

Khi anh M và chị X kết hôn, giữa hai gia đình bà K và gia đình ông T2 có thỏa thuận với nhau như thế nào ông không biết, nhưng hiện nay toàn bộ công trình nhà ở, công trình phụ, sân thềm của gia đình ông T2, bà L làm trong diện tích 20.000m² của bà K đã mua của ông T2, bà T3. Các bên đã đến cơ quan nhà nước làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhau hay chưa ông không được biết. Ông T2, bà L xây dựng ngôi nhà ở khoảng năm 2008 và sử dụng từ năm đó không có tranh chấp gì. Tuy nhiên, sau khi anh M và chị X ly hôn thì giữa hai gia đình đã xảy ra mâu thuẫn và tranh chấp. thôn V Bà và UBND xã T đã giải quyết nhiều lần nhưng các bên chưa thỏa thuận được với nhau về vụ việc. Diện tích tranh chấp mà gia đình ông T2, bà L đang sử dụng có khoảng 800m² thì có một phần lấn vào đường đi chung của thôn (diện tích cụ thể thì ông không rõ) còn lại là diện tích của bà K.

- Bà Triệu Thị V, sinh năm: 1963, địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trình bày: Khoảng năm 2002, ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3 có chuyển nhượng cho bà Triệu Thị K diện tích đất rừng là 20.000m² (2ha), trong tổng diện tích 60.500m² đất rừng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3. Khi chuyển nhượng, hai bên có làm giấy viết tay với nhau và có nhờ bà xác nhận làm chứng. Bà xác nhận chữ ký của bà tại Giấy chuyển nhượng đất đề ngày 26/6/2002 là đúng chữ ký của bà. Sau khi nhận chuyển nhượng diện tích đất này, bà K vẫn trực tiếp canh tác. Sau đó bà K có cho anh M hay anh M có chuyển nhượng cho ông T2 và bà L như thế nào thì bà không được biết.

- Ông Vũ Văn H1, sinh năm: 1971, địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trình bày: Ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3 có bán cho bà Triệu Thị K diện tích đất rừng là 2 ha trong tổng số là 60.000m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2, bà T3. Khoảng năm 2002, hai bên có làm giấy viết tay với nhau để xác nhận việc chuyển nhượng. Khi đó bà K có nhờ ông ký xác nhận vào giấy chuyển nhượng đất rừng sản xuất đề ngày 26/6/2002. Ông xác nhận chữ ký trong giấy trên là của ông. Sau khi chuyển nhượng, bà K trực tiếp canh tác đến thời điểm hiện tại. Việc bà K cho anh M hay anh M chuyển nhượng cho ông T2 và bà L như nào thì ông không được biết.

- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/6/2024 như sau:

Đo đạc hiện trạng ranh giới sử dụng đất xác định: Phần diện tích đất bà Triệu Thị K nhận chuyển nhượng của ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 có diện tích 18.591m². Trong đó, phần đất vợ chồng ông Nguyễn Minh T8, bà Nguyễn Thị L hiện sử dụng có diện tích 813,5m².

Thửa đất có diện tích 813,5m² nằm trong thửa số 06, tờ bản đồ K14 có diện tích 60.500m2 ở thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 531432, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 00436 số: 4022/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2006 mang tên ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3, có các vị trí tiếp giáp như sau: Một phía giáp đường đi vào rừng, một phía giáp đất rừng thuộc diện tích 20.000m² bà K mua của ông T2, bà T3; một phía giáp suối. Trên đất có: 01 nhà 02 tầng đổ bê tông cốt thép kiên cố, công trình khép kín có diện tích 147m2/sàn xây dựng năm 2010; 01 bếp có diện tích 43,29m² xây dựng năm 2008; 01 sân bê tông có diện tích 238,68m² xây dựng năm 2010; 01 khu chăn nuôi có diện tích 51,75m² xây dựng năm 2023 (nhà tạm loại C); 01 mái tôn phía ngoài gần cổng diện tích 62,91m² xây dựng năm 2012; 02 trụ cổng có kích thước cao 2,65m² xây dựng năm 2022; 02 cánh cổng có diện tích 6,6m² mua năm 2022; 01 tường rào diện tích 32,98m² xây dựng năm 2010; 14 cây mít đường kính từ 5-10cm; 01 cây mít đường kính 14cm; 01 cây nhãn đường kính tán lá 3,5m; 01 cây nhãn đường kính tán lá 18m; 01 cây nhãn đường kính tán lá 1m; 01 cây đào đường kính gốc 20cm; 01 cây xoài đường kính gốc 12cm; 01 cây cau có chiều cao trên 3m; 01 cây cau mới trồng.

Kết quả định giá tài sản ngày 01/6/2024 như sau: Giá đất lâm nghiệp 7.000 đồng/m2; 01 nhà 02 tầng, nhà cấp 3 loại 2, giá trị còn lại là 757.050.000 đồng; 01 bếp loại C, giá trị còn lại là 8.571.000 đồng; 01 sân bê tông, giá trị còn lại là 14.320.000 đồng; 01 khu chăn nuôi, giá trị còn lại là 2.587.000 đồng; 01 mái tôn phía ngoài gần cổng, giá trị còn lại là 6.291.000 đồng; 02 trụ cổng, giá trị còn lại là 1.367.000 đồng; 02 cánh cổng, giá trị còn lại là 5.966.000 đồng; 01 tường rào giá trị còn lại là 7.750.000 đồng; 14 cây mít đường kính từ 5-10cm có giá 4.228.000 đồng; 01 cây mít đường kính 14cm có giá 506.000 đồng; 01 cây nhãn đường kính tán lá 3,5m có giá 750.000 đồng; 01 cây nhãn đường kính tán lá 18m có giá 308.000 đồng; 01 cây nhãn đường kính tán lá 1m có giá 191.000 đồng; 01 cây đào đường kính gốc 20cm có giá 308.000 đồng; 01 cây xoài đường kính gốc 12cm có giá 506.000 đồng; 01 cây cau có chiều cao trên 3m có giá 57.000 đồng; 01 cây cau mới trồng có giá 22.000 đồng.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 21/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam đã: căn cứ: Điều 38 Luật đất đai năm 1993; Điều 173, Điều 174, Điều 175; Điều 176 Bộ luật dân sự năm 1993; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165; Điều 166; Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

  1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/6/2002 giữa bà Triệu Thị K và ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 có hiệu lực pháp luật.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Triệu Thị K đối với ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L.

2.1. Giao cho bà Triệu Thị K sử dụng phần diện tích 17.777,5m² đất lâm nghiệp nằm trong tổng diện tích 60.500m² đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 531432, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 00436/ số: 4022/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2006 mang tên ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3 (theo bản đồ địa chính là thửa số 37, tờ bản đồ số 5) tương ứng với hình 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-16-17-18-19-20-21-22-23-24-25-26-27-28-29-30-31-32-33-34-35-36-37-38-39-40-41 (có sơ đồ kèm theo), chiều dài các cạnh được thể hiện tại sơ đồ thửa đất; địa chỉ thửa đất ở thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2.2. Giao cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L sử dụng phần diện tích 813,5m² đất lâm nghiệp nằm trong tổng diện tích 60.500m² đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 531432, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 00436/ Số: 4022/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2006 mang tên ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3 (theo bản đồ địa chính là thửa số 37, tờ bản đồ số 5) tương ứng với hình 11-12-13-14-15-16-17-18-19-20-21-22-E-D-C-B-A (có sơ đồ kèm theo), chiều dài các cạnh được thể hiện tại sơ đồ thửa đất; địa chỉ thửa đất ở thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất bao gồm: 01 nhà 02 tầng đổ bê tông cốt thép kiên cố có diện tích 147m²/sàn; 01 bếp có diện tích 43,29m²; 01 sân bê tông có diện tích 238,68m²; 01 khu chăn nuôi có diện tích 51,75m²; 01 mái tôn phía ngoài gần cổng diện tích 62,91m²; 02 trụ cổng có kích thước cao 2,65m²; 02 cánh cổng có diện tích 6,6m²; 01 tường rào diện tích 32,98m² cùng một số cây cối lâm lộc gồm 14 cây mít đường kính từ 5-10cm; 01 cây mít đường kính 14cm; 01 cây nhãn đường kính tán lá 3,5m; 01 cây nhãn đường kính tán lá 18m; 01 cây nhãn đường kính tán lá 1m; 01 cây đào đường kính gốc 20cm; 01 cây xoài đường kính gốc 12cm; 01 cây cau có chiều cao trên 3m; 01 cây cau mới trồng.

2.3. Buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L phải trả lại giá trị bằng tiền của diện tích 813,5m² đất lâm nghiệp cho bà Triệu Thị K tương ứng với số tiền là 5.694.500 đồng.

3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Triệu Thị K đối với ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L về việc buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L phải tháo dỡ toàn bộ công trình kiên cố nằm trên thửa đất lâm nghiệp có diện tích 813,5m² nằm trong tổng diện tích 60.500m² đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 531432 ngày 24 tháng 10 năm 2006 mang tên ông Triệu Minh T2 và bà Nguyễn Thị T3.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, hướng dẫn thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 02/10/2024, bà Triệu Thị K kháng cáo bản án, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm, buộc ông T2, bà L phải tháo dỡ toàn bộ các công trình xây dựng lấn chiếm trên đất của bà chuyển đi nơi khác để trả lại đất lấn chiếm cho bà; đề nghị tuyên trả lại hơn 100m² đất đường đi cho thôn V; đề nghị định giá lại để xác định giá trị đất đúng với giá ở địa phương ở thời điểm hiện nay.

Ngày 03/10/2024, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L kháng cáo bản án. Ông T1, bà L đồng ý với quyết định của bản án, nhưng không đồng ý việc Toà nhận định không có căn cứ xác định ông T1, bà L mua đất của bà K. Vì lý do bà K đã chuyển nhượng đất cho ông, bà trong thực tế. Bản án nhận định như trên ảnh hưởng đến quyền lợi của ông, bà. Đề nghị Toà án phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm đề nghị Toà án nhân định trong bản án “có căn cứ khẳng định bà Triệu Thị K đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L diện tích 800m² đất lâm nghiệp”.

Quá trình xét xử phúc thẩm, Toà án đã ra quyết định số 20/2025/QĐ-ĐG ngày 06/02/2025 về việc thành lập hội đồng định giá tài sản. Ngày 12/02/2025, Hội đồng định giá tài sản tiến hành định giá lại tài sản. Xác định diện tích đất tranh chấp là đất rừng sản xuất tại các xã thuộc các địa bàn còn lại theo quyết định số 40/2024/QĐ-UBND ngày 27/11/2024 của UBND tỉnh B sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quyết định số 72/2021/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh B, giá đất theo đơn giá của UBND tỉnh là 12.000 đồng/01m²; Giá đất theo giao dịch, chuyển nhượng tại địa phương tại thời điểm định giá là 15.000 đồng/01m². Đối với các tài sản khác trên đất, các đương sự không yêu cầu định giá lại nên Hội đồng định giá không xem xét.

Tại phiên tòa phúc thẩm.

Nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; xin rút kháng cáo về nội dung đề nghị tuyên trả lại hơn 100m² đất đường đi cho thôn V; giữ nguyên các yêu cầu kháng cáo còn lại. Bà không có ý kiến gì về kết quả định giá tài sản. Bà xác định không chuyển nhượng đất cho ông T1, bà L, do ông T1 đã xây nhà, bà chỉ đồng ý cho bị đơn được nhận phần diện tích có nhà ở hai tầng và trả bằng tiền cho bà theo giá thị trường như đã định giá ngày 12/02/2025. Đối với phần diện tích đất còn lại, bà yêu cầu vợ chồng ông T1, bà L tháo dỡ toàn bộ công trình, cây lâm lộc trả lại đất.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Bản án sơ thẩm đã tuyên là không đúng vì Toà án không phải là cơ quan có thẩm quyền trong quản lý, giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó Toà sơ thẩm xác định và giao đất cho ông T1, bà L là không đúng. Căn cứ tài liệu, chứng cứ các đương sự đã cung cấp cho thấy không có cơ sở để xác định bà K đã chuyển nhượng đất rừng cho ông T1, bà L. Việc ông T1, bà L xây dựng công trình nhà ở trên đất rừng không đúng quy định của luật đất đai. Đề nghị HĐXX phúc thẩm căn cứ điều 308, điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 21/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam theo hướng buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình, cây lâm lộc trồng trên đất, trả lại đất cho bà Triệu Thị K.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L trình bày: Phần diện tích đất 813,5m² ông, bà hiện sử dụng là do ông, bà đã mua lại của bà Triệu Thị K từ năm 2008 với giá 500.000 đồng, có giấy tờ mua bán đã giao nộp cho Toà án. Đất đã được ông, bà sử dụng từ đó đến nay, đã xây dựng nhà ở, công trình nhiều năm nay, trước đây bà K không có ý kiến gì, sau khi các con ly hôn mới đòi. Ông, bà có biết diện tích đất tranh chấp là đất rừng, biết việc quy định về sử dụng đất phải đúng mục đích, tuy nhiên ông, bà đã xây dựng công trình trên đất từ năm 2010, sử dụng đất từ đó đến nay, bà K không có ý kiến gì, chính quyền địa phương không ngăn cản, không xử phạt hành chính, do đó việc xây dựng không vi phạm pháp luật. Ông T1, bà L không thừa nhận việc đổi diện tích đất vườn lấy diện tích đất trên với anh M. Ông, bà đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Nay ông, bà đồng ý trả cho bà K giá trị đất tính bằng tiền theo giá thị trường như định giá của Hội đồng định giá tài sản ngày 12/2/2025.

Bị đơn ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 xác nhận chuyển nhượng đất cho bà K, đồng ý với kết quả xét xử sơ thẩm về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/6/2002, ông, bà không kháng cáo, không có ý kiến tranh luận gì.

Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Anh M, anh C1, anh H3 trình bày: Nhất trí với ý kiến của bà K và luật sư, không tranh luận gì.

Chị X trình bày: Nhất trí quan điểm của ông T2, bà L, không tranh luận gì.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi xem xét kháng cáo của bà K, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308, điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của bà K. Buộc ông T2, bà L trả cho bà K giá trị phần diện tích đất đã sử dụng 813,5m² theo giá đất 15.000 đồng/01m², tổng bằng 12.202.500 đồng.

Bị đơn ông T2, bà L phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Bà K, ông T2, bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, ông T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt HĐXX) nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện UBND huyện L, đại diện UBND xã T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, các đương sự khác và luật sư Đồng Duy C có mặt. Ông T2, bà L xác định không mời luật sư Hà Mạnh H4 hay luật sư nào khác tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp tại cấp phúc thẩm. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

Bà Triệu Thị K, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L kháng cáo trong thời hạn luật hiện, thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định, HĐXX chấp nhận xem xét kháng cáo của bà K, ông T1, bà L theo quy định.

[2]. Xét kháng cáo của bà Triệu Thị K đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm, buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L phải tháo dỡ toàn bộ các công trình xây dựng lấn chiếm trên đất của bà chuyển đi nơi khác trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm cho bà, HĐXX nhận thấy:

Về nguồn gốc đất: Căn cứ lời khai của bà Triệu Thị K, ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 và các tài liệu chứng cứ như hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 26/6/2002, kết quả thẩm định tài sản, bản đồ địa chính, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, có cơ sở xác định toàn bộ phần diện tích đất 18.591m² (theo kết quả đo đạc, thẩm định hiện trạng ngày 01/6/2024) trong đó có 813,5m² đất do ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L đang sử dụng nằm trong thửa đất số 06, tờ bản đồ số K14, có diện tích 60.500m², mục đích sử dụng đất: rừng sản xuất, địa chỉ tại K, thôn V, xã T, huyện L đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 531432, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00436/số 4022/QĐ-UBND ngày 24/10/2006 mang tên ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3. Theo “Giấy chuyển nhượng đất rừng sản xuất” lập ngày 26/6/2002 (viết tay) giữa ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 và bà Triệu Thị K cũng như lời khai của các đương sự thì diện tích đất trên được vợ chồng ông T2, bà T3 chuyển nhượng cho bà Triệu Thị K, khi chuyển nhượng xác định diện tích chuyển nhượng là 2ha (bằng 20.000m²), giá chuyển nhượng 3.000.000 đồng, đã được vợ chồng ông T2, bà T3 và bà K đo đạc, chỉ ranh giới rõ ràng, đã bàn giao cho bà K sử dụng từ năm 2002, đến nay đo đạc theo hiện trạng sử dụng được diện tích 18.591m², bà Triệu Thị K và vợ chồng ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 không có tranh chấp, đều yêu cầu Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực pháp luật, nên HĐXX sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Các đương sự không kháng cáo về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/6/2002 giữa ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 và bà Triệu Thị K, do đó HĐXX không xem xét.

Phần diện tích đất ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L sử dụng thực tế hiện nay theo đo đạc hiện trạng ngày 01/6/2024 có diện tích 813,5m². Như phân tích ở trên, diện tích đất này nằm trong thửa đất ông Triệu Minh T2, bà Nguyễn Thị T3 đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông T2, bà T3 đã chuyển nhượng cho bà Triệu Thị K từ ngày 26/6/2002, do đó diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của bà Triệu Thị K.

Xét lời khai của bà K, anh M trình bày khi anh M, chị X còn chung sống, anh M đã tự ý đổi đất với ông T2, bà L phần diện tích đất rừng 813,5m² lấy đất vườn vải của vợ chồng ông T2, sau khi vợ chồng anh M ly hôn, ông T2, bà L đã lấy lại đất vườn vải, không thực hiện đúng thoả thuận, tuy nhiên ông T2, bà L không thừa nhận việc đổi đất như lời khai trên. Ngoài lời khai của bà K, anh M, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh, do đó không có cơ sở xác định anh M, bà K và ông T2, bà L có việc đổi đất cho nhau.

Ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L xác định phần diện tích đất 813,5m² ông, bà sử dụng hiện nay có nguồn gốc ông, bà mua lại của bà Triệu Thị K năm 2008 với giá 500.000 đồng, ngoài ra ông T1, bà L đã giao nộp “giấy chuyển nhượng vườn đất ngày 10/02/2008” để chứng minh. Tuy nhiên, bà K không thừa nhận việc chuyển nhượng đất cho ông T1, bà L, không thừa nhận chữ ký, chữ viết của bà dưới mục “người nhượng” trong tài liệu, chứng cứ ông T1 cung cấp. Xét “giấy chuyển nhượng vườn đất” do ông T1 xuất trình là bản viết tay với nội dung bà Triệu Thị K đang canh tác vườn và đất vườn 2ha thuộc khu khoảnh 14, bà K chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T1 800m² đất vườn để làm nhà, làm vườn, số tiền 500 đ (năm trăm đồng). Cuối giấy chuyển nhượng có ghi ngày 10/02/2008 và chữ ký, họ tên của người nhượng Triệu Thị K, người được nhượng Nguyễn Văn T1. Theo nội dung giấy chuyển nhượng trên thì diện tích đất ông T1, bà L nhận chuyển nhượng là đất vườn, không xác định vị trí cụ thể khu đất, giá chuyển nhượng ghi trong giấy không phù hợp với lời khai của ông T1, bà L. Cấp sơ thẩm đã trưng cầu giám định đối với chữ ký, chữ viết “Triệu Thị K - K” trong tài liệu ông Tâm giao N1, tuy nhiên, kết luận giám định số 1637/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của phòng K1 công an tỉnh B xác định “không kết luận giám định chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung “Triệu Thị K - K” dưới mục “người nhượng” trên tài liệu cần giám định do thời điểm viết cách xa nhau, xuất hiện các đặc điểm giống nhau, khác nhau không giải thích được”. Quá trình xét xử, ông T1, bà L và bà K đã được giải thích nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ nào khác làm mẫu so sánh để thực hiện giám định, do đó không đủ căn cứ để xác định đây là chữ ký, chữ viết của bà Triệu Thị K. Ngoài lời khai trên, ông T1, bà L không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, không có người làm chứng cho quá trình giao dịch chuyển nhượng đất, việc chuyển nhượng trên không được các bên thực hiện theo trình tự thủ tục pháp luật quy định tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bà K không thừa nhận đã chuyển nhượng đất cho ông T1, bà L, do đó Toà án cấp sơ thẩm đã xác định không có căn cứ chứng minh bà K đã chuyển nhượng cho ông T1, bà L diện tích đất 813,5m² và chấp nhận yêu cầu của bà K về việc buộc ông T1, bà L trả lại phần diện tích đất lâm nghiệp 813,5m² là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 105, 106,107 Luật đất đai năm 2003; Các điều 166,167,168,170 Luật đất đai năm 2013; Điều 26; điều 31, điều 184 Luật đất đai năm 2024; điều 688, 689, 691 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 117; Điều 166; Điều 500; Điều 501; Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ thực trạng sử dụng đất của gia đình ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L đã xây dựng các công trình kiên cố gắn liền với đất như nhà ở hai tầng có diện tích 147m²/1 sàn; bếp diện tích 43,29m²; sân bê tông, diện tích 238,68m²; khu chăn nuôi diện tích 51,75m²; bán mái tôn diện tích 62,91m²; trụ cổng, tường, trồng cây và nêu lý do các công trình trên được gia đình ông T1, bà L xây dựng từ năm 2008, 2010 để từ đó giao cho ông T1, bà L tiếp tục sử dụng phần diện tích đất trên và buộc ông T1, bà L trả cho bà K giá trị đất tính bằng tiền, HĐXX phúc thẩm thấy không đúng quy định của pháp luật, bởi lẽ diện tích đất ông T1, bà L sử dụng và xây dựng công trình nêu trên là đất rừng sản xuất, việc tự ý xây dựng công trình nhà ở và các công trình kiên cố trên đất rừng sản xuất là trái phép, không đúng mục đích sử dụng đất, đã vi phạm quy định tại các điều 11, điều 15, điều 105, điều 107 của luật đất đai năm 2003; điều 6, khoản 3 điều 12 Luật đất đai năm 2013; điều 5, điều 11; điều 26; điều 31, điều 184 Luật đất đai năm 2014. Bên cạnh đó, cấp sơ thẩm nhận định và tuyên giao cho bà K sử dụng diện tích đất 17.777,5m², giao cho ông T1, bà L sử dụng diện tích đất 813,5m², HĐXX thấy, Toà án không phải cơ quan có thẩm quyền trong quản lý, giao đất hay thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai, do đó cấp sơ thẩm tuyên giao đất cho các ông, bà như trên là không đúng thẩm quyền, không đúng quy định của pháp luật về đất đai.

Như vậy, ông T1, bà L không phải là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với phần diện tích đất rừng sản xuất 813,5m², nên phải trả lại đất cho bà K là chủ sử dụng đất hợp pháp là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật, các công trình ông T1, bà L đã xây dựng trên đất rừng là trái phép nên buộc phải tháo dỡ, di dời toàn bộ, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bà K về việc buộc ông T1, bà L tháo dỡ, di dời toàn bộ các công trình kiên cố, cây trồng trên đất, trả lại cho bà Triệu Thị K 813,5m² đất rừng.

[3]. Đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L “yêu cầu Toà án nhận định xác định bà Triệu Thị K đã chuyển nhượng đất cho ông T1, bà L là có căn cứ”. HĐXX thấy: Như đã phân tích tại mục [2], bà Triệu Thị K là người có quyền sử dụng đối với diện tích đất rừng sản xuất 18.591m² thuộc thửa đất số 06, tờ bản đồ số K14, tại K, thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, trong đó có 813,5m² đất do ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L đang sử dụng. Việc ông T1, bà L xác định đã sử dụng diện tích đất 813,5m² là do bà K chuyển nhượng, tuy nhiên đến nay ông T1, bà L không đưa ra được chứng cứ hợp pháp để chứng minh việc bà K đã chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 813,5m² cho ông T1, bà L, do đó không có cơ sở để HĐXX chấp nhận nội dung kháng cáo này của ông T1, bà L.

[4]. Đối với nội dung kháng cáo của bà K đề nghị định giá lại tài sản, HĐXX nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã tiến hành định giá đất, mức giá đất lâm nghiệp được Hội đồng định giá xác định 7.000 đồng/01m² tại thời điểm tháng 6 năm 2024. Tại thời điểm định giá trên, quyết định số 72/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh B có hiệu lực pháp luật. Bà K kháng cáo và có đơn yêu cầu định giá lại tài sản tranh chấp với lý do mức giá trên không phù hợp với giá thị trường. Tại kết quả định giá tài sản ngày 12/02/2025, Hội đồng định giá tài sản đã căn cứ theo quyết định số 40/2024/QĐ-UBND ngày 27/11/2024 của UBND tỉnh B sửa đổi quyết định số 72/QĐ-UBND ngày 21/12/2021, xác định giá đất rừng sản xuất tại khu vực tranh chấp theo quy định là 12.000 đồng /01m² và theo giá chuyển nhượng trên thị trường tại thời điểm định giá là 15.000 đồng/01m2. Căn cứ khoản 5 điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 2 thông tư 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/3/2014 của Toà án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ T9, đảm bảo nguyên tắc định giá tài sản theo giá thị trường nơi có tài sản tại thời điểm định giá, HĐXX chấp nhận kết quả định giá lại đối với diện tích đất rừng theo giá thị trường là 15.000 đồng/01m².

[5]. Đối với kháng cáo của bà K yêu cầu ông T1, bà L phải trả lại diện tích đất khoảng 100m² thuộc lối đi chung, tại phiên toà bà K đã rút yêu cầu này, do đó HĐXX không đặt ra xem xét.

[6]. Từ những phân tích trên thấy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K, buộc ông T1 trả bằng tiền theo giá trị đất theo định giá, không buộc ông T1, bà L tháo dỡ công trình trả lại đất rừng và giao đất cho bà K, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L sử dụng là không có căn cứ, không đúng quy định của luật đất đai. HĐXX chấp nhận kháng cáo của bà K, sửa một phần bản án sơ thẩm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng, đủ người tham gia tố tụng, tiến hành các thủ tục tố tụng đầy đủ, đảm bảo.

[7]. Chi phí tố tụng: Bà K được chấp nhận kháng cáo, nên bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L phải chịu toàn bộ cho phí định giá tài sản. Quá trình giải quyết vụ án, tại cấp sơ thẩm đã định giá, thẩm định, đo đạc chi phí hết 10.320.000 đồng, tại cấp phúc thẩm đã tiến hành định giá lại đất tranh chấp, chi phí hết 2.800.000 đồng, tổng cộng 13.120.000 đồng. Số tiền trên buộc ông T1, bà L phải hoàn trả cho bà K.

[8]. Về án phí: Căn cứ điều 147; 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 điều 12; Điều 26; điều 27; điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Triệu Thị K, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm, bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[9]. Đối với công tác quản lý đất đai: HĐXX kiến nghị cơ quan thanh tra, cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền, xem xét xử lý trách nhiệm đối với cán bộ, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc để xảy ra sai phạm trong công tác quản lý đất đai tại địa phương.

[10]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
    • - Chấp nhận kháng cáo của bà Triệu Thị K. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 21/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam.
    • - Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L.
  2. Căn cứ các điều: Điều 11, điều 15, điều 105, điều 106, điều 107 Luật đất đai năm 2003; điều 6, khoản 3 điều 12; điều 166, 167, 168, 170 Luật đất đai năm 2013; điều 5, điều 11; điều 26; điều 31; điều 184 Luật đất đai năm 2014; điều 688, 689, 691 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 117; điều 166; điều 500; điều 501; điều 502 Bộ luật đân sự năm 2015

    Căn cứ khoản 3, khoản 9 Điều 26; Điểm b khoản 1 điều 38; Điều 147; Điều 148; Điều 157, Điều 165; Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điều 26, điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

    • + Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L phải tháo dỡ, di dời toàn bộ các công trình xây dựng, cây lâm lộc (gồm 01 nhà 02 tầng đổ bê tông cốt thép kiên cố có diện tích 147m²/sàn; 01 bếp có diện tích 43,29m²; 01 sân bê tông có diện tích 238,68m²; 01 khu chăn nuôi có diện tích 51,75m²; 01 mái tôn phía ngoài gần cổng diện tích 62,91m²; 02 trụ cổng có kích thước cao 2,65m; 02 cánh cổng có diện tích 6,6m²; 01 tường rào diện tích 32,98m²;14 cây mít đường kính từ 5-10cm; 01 cây mít đường kính 14cm; 01 cây nhãn đường kính tán lá 3,5m; 01 cây nhãn đường kính tán lá 18m; 01 cây nhãn đường kính tán lá 1m; 01 cây đào đường kính gốc 20cm; 01 cây xoài đường kính gốc 12cm; 01 cây cau có chiều cao trên 3m; 01 cây cau và các tài sản khác) trên diện tích đất 813,5m² lấn chiếm của bà Triệu Thị K.
    • + Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L trả lại cho bà Triệu Thị K diện tích đất rừng 813,5m² thuộc thửa số 06, tờ bản đồ K14, địa chỉ tại K, thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  3. Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Ông T1, bà L phải chịu 13.120.000 đồng (mười ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) và phải hoàn trả số tiền trên cho bà Triệu Thị K.
  4. Về án phí:
    • Bà Triệu Thị K, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
    • Bà Nguyễn Thị L phải chịu 305.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn T1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    • Số tiền án phí bà L phải chịu được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà L đã nộp tạm ứng tại biên lai thu số 008505 ngày 18/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Bà L phải nộp tiếp số tiền án phí còn lại.
  5. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, Chi cục THADS sơ thẩm;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cơ quan Thanh tra; Cơ quan QLHCNN
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VPHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 39/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà K khởi kiện yêu cầu ông T, bà Lphải trả lại diện tích đất rừng 813,5m2 và tháo dỡ toàn bộ công trình trả lại đất. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tính giá trị đất bằng tiền để buộc bị đơn trả. Bà K kháng cáo đề nghị Toà án phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm. HĐXX phúc thẩm chấp nhận KC của bà K, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu KK của bà K, buộc ông T, bà L tháo dỡ, di rời toàn bộ công trình kiên cố trên đất rừng sản xuất, trả lại bà K đất lấn chiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger