|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HS-ST
Ngày 28-02-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Ngọc Hạnh;
Ông Lương Thanh Nhàn.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Đào Văn T, sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Định; địa chỉ thường trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; địa chỉ tạm trú: Nhà T (Trần Ngọc H), đường D, tổ F, khu phố E, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn M, sinh năm 1970 và bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1972; có vợ tên Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1996 và có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/6/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1964; hộ khẩu thường trú: Khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 2002; thường trú tại: Khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH T4; địa chỉ trụ sở: Đường T, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Ngọc T3 – chức vụ: Giám đốc. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Văn T được Sở Giao thông Vận tải tỉnh B cấp giấy phép lái xe hạng C số [...] ngày 04/10/2023, có giá trị đến ngày 04/10/2028. Đào Văn T làm tài xế lái xe ôtô chuyên dụng thu gom rác cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T4 (viết tắt là Công ty T4).
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, Đào Văn T điều khiển xe ôtô chuyên dụng thu gom rác, biển số 61C – 494.37 chở theo 02 nhân viên thu gom rác là ông Võ Văn K (sinh năm 1973, địa chỉ thường trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên) và ông Nguyễn Tấn L1 (sinh năm 1999, địa chỉ thường trú: Khu phố Đ, phường Đ, thành phố B, tỉnh Vĩnh Long) từ ngã ba P về hướng ngã tư H. Khoảng 17 giờ 55 phút cùng ngày, khi lưu thông đến phía trước quán cơm không tên cạnh đường D, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương thì Đào Văn T dừng xe bên lề phải theo chiều xe lưu thông để 02 nhân viên gom rác lên xe, còn Đào Văn T vẫn ngồi ở ghế bên tài. Lúc này, bà Nguyễn Thị P đi bộ từ phía sau cùng chiều với xe ôtô biển số 61C – 494.37, rồi đi vượt lên bên trái xe ôtô. Khi bà P đi đến phía trước đầu xe ôtô bên trái thì nhân viên đã gom rác xong nên Đào Văn T điều khiển xe ôtô chuyển hướng qua bên trái để đi ra làn đường xe ôtô. Do không chú ý quan sát nên T không nhìn thấy bà P, dẫn đến phần đầu trước bên trái xe ôtô va chạm vào người bà P làm bà P té ngã xuống đường, rồi lần lượt bị bánh xe phía trước và phía sau bên trái cán lên người bà P dẫn đến bà P tử vong tại chỗ.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe ôtô biển số 61C – 494.37; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe; 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số [...]; 01 (một) USB chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/5/2024, xác định:
- - Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường thẳng hai chiều, được trãi nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, có dãy phân cách cứng phân chia phần đường. Phần đường hướng lưu thông từ ngã ba P đến ngã tư H rộng 9,7m, được chia thành 03 làn đường, trong đó làn đường trong cùng rộng 2,1m, làn đường giữa rộng 3,7m, làn đường ngoài cùng rộng 3,6m.
- - Lấy mép đường bên phải theo hướng từ ngã ba P đến ngã tư H làm lề chuẩn và lấy trụ điện số 76 nằm trong lề phải theo hướng từ ngã ba P đến ngã tư H (cách lề chuẩn 4,1m) làm điểm mốc.
- - Xe ôtô biển số 61C-494.37 dừng trên làn đường trong cùng, đầu xe quay về hướng ngã tư H. Trục bánh trước bên phải cách lề chuẩn 0,25m, trục bánh sau bên phải đè lên lề chuẩn. Trục bánh trước bên trái cách lề chuẩn 2,51m, trục bánh sau bên trái cách lề chuẩn 2,15m và cách điểm mốc là 5m.
- - Nạn nhân nằm úp trong làn đường trong cùng. Đầu nạn nhân hướng vào lề chuẩn, cách lề chuẩn 0,98m, chân phải co lên ôm sát thân người, cách lề chuẩn 1,15m, chân trái duỗi cong hướng về ngã tư H, cách lề chuẩn 2,28m. Đầu nạn nhân cách trục bánh sau bên phải là 2m, cách trục bánh sau bên trái 2m. Chân trái nạn nhân cách trục bánh sau bên phải là 2,6m, cách trục bánh bánh sau bên trái 1,3m. Gương chiếu hậu bên trái xe ôtô kích thước (0,6 x 0,225)m, điểm thấp nhất cách mặt đường là 2,03m, điểm cao nhất cách mặt đường là 2,63m.
Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện đối với xe ôtô biển số 61C-494.37 ngày 04/5/2024, xác định:
- - Vết trượt xước mất bụi góc cảng trước bên trái không rõ hình dạng kích thước (0,35 x 0,3)m, vết thấp nhất cách mặt đường 0,74m, vết cao nhất cách mặt đường 1,09m, cách trục bánh trước bên trái 1,4m;
- - Mặt lăn vỏ bánh ngoài trục bánh thứ hai bên trái còn dính tổ chức da, cơ nạn nhân kích thước (0,15 x 0,15)m.
- - Mặt lăn vỏ bánh trong trục bánh thứ hai bên trái còn dính tổ chức da, cơ nạn nhân, vết thứ nhất kích thước (0,20 x 0,15)m, vết thứ hai kích thước (0,5 x 0,18)m.
Theo Kết luận giám định tử thi số 2215/KLGĐTT-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị P là do đa chấn thương.
Ngày 20/5/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B xử lý giao trả xe ôtô biển số 61C-494.37 cùng giấy chứng nhận kiểm định xe cho đại diện hợp pháp của Công ty T4 là ông Đoàn Ngọc T3. Ông T3 đã nhận lại xe ôtô biển số 61C-494.37 cùng giấy chứng nhận kiểm định xe.
Ngày 17/5/2024, Đào Văn T và đại diện hợp pháp của Công ty T4 là ông Đoàn Ngọc T3 cùng nhau thỏa thuận bồi thường, hỗ trợ chi phí mai táng cho người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 115.000.000 đồng (một trăm mười lăm triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền này không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.
Bị cáo Đào Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, nội dung bản Cáo trạng số 41/CT-VKSBC ngày 21/01/2025, Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/5/2024, Biên bản khám nghiệm phương tiện đối với xe ôtô biển số 61C-494.37 ngày 04/5/2024, Kết luận giám định tử thi số 2215/KLGĐTT-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết quả xét nghiệm nồng độ cồn, ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSBC ngày 21/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đào Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đào Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm. Về xử lý vật chứng: Đề nghị giao trả giấy phép lái xe hạng C cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, về hình phạt của bị cáo thì đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự không yêu cầu phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường cho gia đình bị hại. Công ty đã nhận lại xe ôtô, xe không bị hư hỏng gì nên không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với xe ôtô. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo đi làm trả nợ cho Công ty và chăm sóc gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà, bị cáo Đào Văn T đã khai nhận hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như nội dung truy tố Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định tử thi cùng những tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Khoảng 17 giờ 55 phút ngày 05/5/2024, tại đoạn đường D, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Đào Văn T có hành vi điều khiển xe ôtô biển số 61C-494.37 theo hướng từ ngã ba P đến ngã tư H nhưng không chú ý quan sát nên không nhìn thấy bà Nguyễn Thị P đang đi bộ phía bên trái xe ôtô theo hướng xe lưu thông, dẫn đến gây tai nạn giao thông làm bà P tử vong.
Với hành vi điều khiển xe ôtô không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông làm chết 01 người là vi phạm quy định chung của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Cáo trạng số 41/CT-VKSBC ngày 21/01/2025 vbị cáo Đào Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét hành vi của bị cáo Đào Văn T không chỉ xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ mà còn gây thiệt hại tính mạng, tài sản của người khác. Về nhận thức bị cáo Đào Văn T biết rõ việc khi tham gia giao thông phải tuân thủ quy định về an toàn giao thông đường bộ nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức lỗi vô ý.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bên cạnh đó gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, bị cáo thuộc trường hợp được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời, theo mô tả thứ tự, vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết của hiện trường thì cũng có một phần lỗi của bị hại do không giữ khoảng cách an toàn khi tham gia giao thông, di chuyển qua đường không đúng làn đường.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Tại phiên tòa, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục. Do bị cáo Đào Văn T bị xử phạt hình phạt tù nhưng được hưởng án treo nên được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định tại Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm, chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, do Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
- - Về trách nhiệm dân sự: Ngày 17/5/2024, bị cáo Đào Văn T và ông Đoàn Ngọc T3 là đại diện hợp pháp của Công ty TNHH T4 cùng nhau thỏa thuận bồi thường, hỗ trợ chi phí mai táng cho người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 115.000.000 đồng (một trăm mười lăm triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền này, không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Ông T3 không có yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền Công ty đã bồi thường cho gia đình bị hại đồng thời do xe ôtô biển số 61C-494.37 không bị hư hỏng nên không có yêu cầu bồi thường đối với xe ôtô.
- - Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) ôtô biển số 61C-494.37 cùng giấy chứng nhận kiểm định xe: Xe này thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH T4. Ngày 20/5/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố B xử lý giao trả xe ôtô biển số 61C-494.37 cùng giấy chứng nhận kiểm định xe cho đại diện hợp pháp của Công ty T4 là ông Đoàn Ngọc T3. ông T3 nhận lại xe ôtô biển số 61C-494.37 cùng giấy chứng nhận kiểm định xe và không có yêu cầu gì khác.
Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh B cấp ngày 04/10/2023 cho bị cáo T, có giá trị đến ngày 04/10/2028: Do Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo nên trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo.
[6] Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, Điều 260, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Đào Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 28/02/2025).
Giao bị cáo Đào Văn T cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 để giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 17/LCĐKNCT-TA ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
3.1 Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
3.2 Về biện pháp tư pháp xử lý vật chứng: Căn cứ theo Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trả cho bị cáo Đào Văn T 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh B cấp ngày 04/10/2023 cho bị cáo T, có giá trị đến ngày 04/10/2028.
(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát)
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
