Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HS-ST

Ngày 27/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường.

Thẩm phán: Bà Hà Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Xuân Thường

Ông Võ Duy Bảo

Bà Nguyễn Thị Quế Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 27/02/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến, giữa:

Điểm cầu chính: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh N.

Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 04/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST-HS ngày 14/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Văn Q, tên gọi khác: không; Sinh ngày: 14 tháng 8 năm 1995 tại: huyện D, Nghệ An. Nơi cư trú: xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Lê Văn L (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L1; Sinh năm 1954; Vợ: Đậu Thị T; Sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Lê Văn Q bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 17/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

2. Họ và tên: Ngân Thị P, tên gọi khác: không; Sinh ngày: 01 tháng 5 năm 1972 tại: huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản Đ, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12. Dân tộc: Thái; giới tính: nữ Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Ngân Văn D (đã chết); Họ và tên mẹ: Lô Thị H (đã chết); Chồng: Ngân Văn B; Sinh năm 1973; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Ngân Thị P bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 17/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

3. Họ và tên: Huỳnh Văn P1, tên gọi khác: không; sinh ngày: 13 tháng 7 năm 1993 tại: huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn H1 (đã chết); con bà: Phạm Thị H2; Sinh năm 1964. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Huỳnh Văn P1 bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 17/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Q: Ông Trần Thanh B1, Luật sư, Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Ngân Thị P: Ông Nguyễn Văn H3; Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn P1: Ông Nguyễn Quang T1, Luật sư, Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 17/9/2024, Tổ công tác Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đang làm nhiệm vụ tại bản Pột, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An phát hiện Huỳnh Văn P1 điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter, BKS: 37F1-619.97 chở Lê Văn Q di chuyển từ xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An đến xã N có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra phát hiện trên giá để đồ phía trước có 01 gói bao ni long màu vàng bên trong có 11 gói ni lông màu xanh và 03 gói ni lông màu hồng, đều chứa các viên nén màu hồng (nghi ma túy Methamphetamine), có tổng khối lượng 271,65 gam nên đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Lê Văn Q khai nhận 14 gói ni lông chứa các viên nén màu hồng là ma túy (Methamphetamine), Quyền mua của Ngân Thị P với giá 80.000.000đ để sử dụng và bán lại kiếm lời.

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/9/2024, Ngân Thị P đến trụ sở Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đầu thú về việc bán 14 gói ma tuý hồng phiến cho Lê Văn Q và hưởng lợi số tiền 5.000.000đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nhà Ngân Thị P, thu giữ số tiền 5.000.000₫.

Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của Lê Văn Q, Huỳnh Văn P1, Ngân Thị P như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 16/9/2024, Lê Văn Q gọi điện cho Ngân Thị P để hỏi mua ma túy nhưng P nói không có bán, nếu muốn mua thì lên gặp P sẽ đi mua hộ. Sau đó, Ngân Thị P một mình đi lên khu vực đồi núi thuộc bản Đửa, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An để tìm người bán ma túy. Tại đây, Ngân Thị P gặp hai người đàn ông (P không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), sau khi trao đổi và biết hai người này bán ma túy hồng phiến với giá 3.700.000đ (ba triệu bảy trăm nghìn đồng)/1 gói, P ra về và hẹn tối sẽ quay lại.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Văn Q rủ Huỳnh Văn P1 cùng đi lên khu vực xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An để mua ma túy sử dụng và bán kiếm lời. Huỳnh Văn P1 đồng ý, góp cho Q số tiền 5.000.000đ rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu sơn trắng đen, BKS: 37F1-619.97 chở Lê Văn Q đi từ huyện D, tỉnh Nghệ An đến khu vực bản Đ, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An vào khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày thì Q nói P1 đứng chờ ở gần khu vực cầu B còn Quyền một mình đi bộ đến nhà của Ngân Thị P ở Bản Đ.

Tại đây, Lê Văn Q đặt vấn đề mua 14 (mười bốn) gói ma túy hồng phiến, Ngân Thị P báo giá 3.500.000đ đến 4.000.000đ tùy theo chất lượng của ma túy. Lê Văn Q đồng ý và đưa trước cho Ngân Thị P số tiền 20.000.000đ, số tiền còn lại khi nhận đủ ma túy Quyền sẽ thanh toán.

Sau đó, Ngân Thị P cầm số tiền này đi bộ lên khu vực đồi núi thuộc bản Đửa, gặp lại hai người đàn ông bán ma túy, mua được 14 (mười bốn) gói ma túy hồng phiến với giá 51.800.000đ, thống nhất trả trước 20.000.000đ, còn thiếu 31.800.000đ, sau khi khách trả đủ tiền P sẽ thanh toán cho họ sau. Một trong hai người đàn ông cầm 20.000.000đ của Ngân Thị P đưa rồi lấy từ trong túi ra 01 (một) gói được gói bằng bao ni lông màu vàng bên trong chứa: 11 (mười một) gói được gói bằng bao ni lông màu xanh và 03 (ba) gói được gói bằng bao ni lông màu hồng, bên trong mỗi gói chứa các viên ma tuý hồng phiến đưa cho P.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Ngân Thị P về nhà và đưa cho Lê Văn Q 14 (mười bốn) gói ma túy hồng phiến, Q cầm ma tuý rồi đưa cho P số tiền 34.000.00₫ trong đó 31.800.000đ là tiền mua ma túy còn thiếu, còn 2.200.000₫ là tiền Quyền trả công cho P. P cầm tiền quay lại gặp 02 người đàn ông bán ma túy trả số tiền còn thiếu là 31.800.000đ, họ đưa lại cho Phôm 2.800.000đ tiền công. Phôm về nhà cất số tiền 5.000.000đ vào tủ quần áo.

Sau khi mua được ma túy Lê Văn Q đi bộ ra về và gọi Huỳnh Văn P1 điều khiển xe máy đến đón đi về đến khu vực bản P, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An vào khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 17/9/2024 thì bị Tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/9/2024, Ngân Thị P đến Công an huyện T đầu thú về việc bán ma tuý hồng phiến cho Lê Văn Q.

Tại bản kết luận giám định số 866/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

“Các mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M14 thu giữ của Lê Văn Q và Huỳnh Văn P1 gửi tới giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng (14 gói) thu giữ của Lê Văn Q và Huỳnh Văn P1 có tổng khối lượng là 271,65g (hai trăm bảy mươi mốt phẩy sáu mươi lăm gam)”.

Tại bản kết luận giám định số: 197/KL-KTHS (Đ3-TL) ngày 01/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) gồm: 25 (hai mươi lăm) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật”.

* Việc thu giữ, xử lý vật chứng:

  • - 271,65 gam ma túy (Methamphetamine) của Lê Văn Q đã lấy 14 gam giám định còn lại 257,65 gam;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu TECNO LH7n vỏ màu xanh, thu giữ của Huỳnh Văn P1;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max vỏ màu vàng, thu giữ của Lê Văn Q;
  • - 01 (một) điện thoại di động ITEL màu đen, thu giữ của Ngân Thị P;
  • - số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) thu giữ của Ngân Thị P, hiện đang gửi bảo quản tại Kho bạc nhà nước tỉnh N).
  • - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn trắng đen, BKS: 37F1-619.97 thu giữ của Huỳnh Văn P1: Quá trình điều tra xác định chủ xe theo đăng ký là Nguyễn Thái S (sinh năm 1995, trú tại: xóm Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An đã bán cho Phạm Văn Q1 (sinh năm 1995, trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An). Anh Phạm Văn Q1 không biết việc P1 sử dụng xe để đi mua bán trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q1.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Lê Văn Q, Ngân Thị P, Huỳnh Văn P1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận về hành vi như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng, căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt Lê Văn Q 20 năm tù, Ngân Thị P 20 năm tù, Huỳnh Văn P1 18 – 19 năm tù; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo. Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết vụ án, nhất là việc các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong suốt quá trình tố tụng; hoàn cảnh gia đình khó khăn, nghỉ học sớm, thiếu hiểu biết pháp luật, không có công việc ổn định dẫn đến hành vi phạm tội.

Các bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng trước khi nghị án các bị cáo đều đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/9/2024, Lê Văn Q rủ Huỳnh Văn P1 đến nhà của Ngân Thị P ở Bản Đ, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An đặt mua ma túy bán kiếm lời, P1 đồng ý và góp 5.000.000đ. Đến khoảng 19h cùng ngày Lê Văn Q gặp Ngân Thị P đặt mua 14 (mười bốn) gói ma túy Methamphetamine (hồng phiến) với số tiền 54.000.000đ (trong đó 51.800.000₫ tiền mua ma túy và trả công cho P là 2.200.000₫). Ngân Thị P đi lên đồi thuộc bản Đ, mua 14 gói ma túy hồng phiến của hai người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể), với giá 51.800.000đ, 02 người này trả tiền công cho P là 2.800.000đ. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Ngân Thị P về nhà, đưa cho Lê Văn Q 14 gói ma túy Methamphetamine khối lượng 271,65g, Quyền cùng với Huỳnh Văn P1 điều khiển xe máy đi về. Đến khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 17/9/2024 khi đến khu vực bản P, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Các bị cáo đã có hành mua bán ma túy để hưởng lợi, bán lại và sử dụng, là hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tổng khối lượng ma túy các bị cáo mua bán và phải chịu trách nhiệm hình sự là: 271,65 gam ma túy Methamphetamine. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Vai trò của các bị cáo trong vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo:

[2.1]. Vai trò của các bị cáo trong vụ án.

Trong vụ án này bị cáo Lê Văn Q là người khởi xướng, trực tiếp liên hệ, thỏa thuận với Ngân Thị P về việc mua bán ma túy, bị cáo phải chịu vai trò chính; Ngân Thị P là người trực tiếp thỏa thuận với Lê Văn Q, liên hệ và trực tiếp đi mua ma túy để giao cho Lê Văn Q, Huỳnh Văn P1; Huỳnh Văn P1 là đồng phạm tích cực trong vụ án, tham gia góp tiền, chở Q đi lấy ma túy, tuy nhiên vai trò thấp hơn Lê Văn Q, Ngân Thị P.

[2.2]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS.

Các bị cáo không có tính tiết tăng nặng TNHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với Ngân Thị P là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, không được đi học, hiểu biết pháp luật hạn chế, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, vì vậy xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với Huỳnh Văn P1, xem xét vai trò đồng phạm của bị cáo trong vụ án, có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[2.3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Trong tình hình hiện nay ma túy là hiểm họa của toàn nhân loại, làm suy thoái giống nòi, suy đồi đạo đức, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xã hội. Các bị cáo biết việc mua bán ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và xử lý nghiêm nhưng vẫn thực hiện. Tổng khối lượng ma túy các bị cáo thực hiện hành vi mua bán là: 271,65 gam ma túy Methamphetamine, khối lượng tương đối lớn, vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe tội phạm và phòng ngừa chung trong xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt Lê Văn Q 20 năm tù, Ngân Thị P 20 năm tù, Huỳnh Văn P1 18 – 19 năm tù là mức án phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Về vật chứng vụ án: Ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 03 điện thoại di động thu giữ của Lê Văn Q, Ngân Thị P, Huỳnh Văn P1 là phương tiện các bị cáo dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách; số tiền 5.000.000đ thu giữ của Ngân Thị P là số tiền bị cáo thu lợi bất chính, cần tịch thu sung vào ngân sách.

[5] Về án phí: Bị cáo Lê Văn Q, Huỳnh Văn P1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ngân Thị P.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố các bị cáo Lê Văn Q, Huỳnh Văn P1, Ngân Thị P phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Q – 20 (hai mươi) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/09/2024.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngân Thị P – 20 (hai mươi) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/09/2024.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 17 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P1 – 18 (mười tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/09/2024.

[2] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy vật chứng là 257,65 gam ma túy Methamphetamin, vật chứng còn lại sau khi giám định;
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 03 điện thoại di động thu giữ của Lê Văn Q, Huỳnh Văn P1, Ngân Thị P.

Đặc điểm các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh N.

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) thu giữ của Ngân Thị P. Số tiền hiện có tại Kho bạc nhà nước tỉnh N – Biên bản giao nhận tài sản số 69/2024/BBBG-KBNA ngày 11/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Kho bạc nhà nước tỉnh N.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 12, 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lê Văn Q, Huỳnh Văn P1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ngân Thị P.

[4] Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An
  • - Cục T.H.A dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA. THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Trần Quốc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 39/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Le Van Quyen mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger