TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày 27-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thủy
- Ông Nguyễn Thanh Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Vào ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc tiến hành xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Quang V, sinh năm 2003 tại Đồng Nai
Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.
Con ông Lê Văn H (không rõ năm sinh) và bà Lê Thị N, sinh năm 1971.
Vợ: chưa có.
Con: có 01 con sinh ngày 18/05/2024, là con chung của Lê Quang V và cháu Huỳnh Thị Kim N1 – sinh ngày 29/12/2009.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị tạm giữ từ ngày 20/11/2024 và giam cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- * Bị hại: Cháu Huỳnh Thị Kim N1, sinh ngày 29/12/2009 (có mặt).
- Địa chỉ: ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- * Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Huỳnh Thị Ngọc D, sinh năm: 1986 (mẹ ruột, có mặt).
- Địa chỉ: ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Vũ Thùy D1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (có mặt)
- * Người bào chữa cho bị cáo Lê Quang V: Luật sư Trần Văn D2 – Công ty L (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2023, Lê Quang V đến lò gạch Đạt Hiền thuộc ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai làm thuê. Trong quá trình cùng làm thuê tại đây thì giữa V và em Huỳnh Thị Kim N1 nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau. Đến tháng 6/2023, V và em N1 đã tự nguyện giao cấu với nhau 01 lần tại nhà trọ của N1 ở lò gạch Đạt H1 dẫn đến em N1 có thai và ngày 18/05/2024 em N1 đã sinh ra 01 bé gái tại Trung tâm y tế huyện X.
- * Tại Bản kết luận giám định số 5001/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Lê Quang V có quan hệ huyết thống cha – con với bé gái do em Huỳnh Thị Kim N1 sinh ra.
- * Trách nhiệm dân sự: Lê Quang V đã hỗ trợ cho em Huỳnh Thị Kim N1 số tiền 5.000.000 đồng, gia đình V đang nuôi dưỡng N1 và bé gái. Bà Huỳnh Thị Ngọc D (là mẹ của Huỳnh Thị Kim N1) đã nhận số tiền trên, có đơn bãi nại cho V.
- * Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSXL ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Lê Quang V về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
- * Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quang V phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- - Về tình tiết tăng nặng: Không.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; được gia đình bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về mức hình phạt: bị cáo Lê Quang V có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51BLHS nên đề nghị xử phạt bị cáo Lê Quang V dưới khung, mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- * Quan điểm của Luật sư Trần Văn D2: Về tội danh, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thống nhất với quan điểm của đại diện VKSND huyện Xuân Lộc. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến sức khỏe và tâm sinh lý của bị hại là đúng sự thật nhưng xuất phát từ sự yêu thương em N1 thật lòng, khi nghe em N1 báo có thai bị cáo đã tích cực làm việc để lo cho mẹ con em N1, bị cáo có trách nhiệm với em N1 và đứa con do em N1 sinh ra. Bị cáo xuất thân trong gia đình đơn chiếc, không có cha, mẹ bị bệnh, bị cáo phải đi làm từ sớm để lo cho mẹ và em, là lao động chính duy nhất trong gia đình; bị cáo học vấn thấp nên ít nhiều hạn chế nhận thức. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để về lo cho gia đình, cho em N1 và con.
- * Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý bà Vũ Thùy D1: Tuy bị cáo và bị hại xuất phát từ sự yêu thương nhau, cả hai tự nguyện thực hiện hành vi giao cấu nhưng hành vi của bị cáo là xâm phạm đến sức khỏe và tâm sinh lý của bị hại. Bị hại và gia đình bị hại có đơn xin bãi nại và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để làm lại cuộc đời nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo một mức án phù hợp thể hiện tính nhân đạo và cũng mang tính chất giáo dục, cảnh tỉnh cho các trường hợp khác.
- * Bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại: giữa bị cáo và bị hại thương yêu nhau thật lòng nên bị hại mới tự nguyện để cho bị cáo Lê Quang V thực hiện hành vi giao cấu. Từ khi bị hại mang thai cho đến khi bị hại sinh ra 01 bé gái tại Trung tâm y tế huyện X thì V và gia đình của V đều có trách nhiệm, luôn chăm sóc về vật chất lẫn tinh thần cho N1 nên xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- * Bị cáo nói lời sau cùng: thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Quang V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Như vậy: Xuất phát từ mối quan hệ tình cảm yêu thương nhau, vào tháng 6/2023, tại nhà trọ lò gạch Đ thuộc ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Lê Quang V (đã trên 18 tuổi) và em Huỳnh Thị Kim N1, sinh ngày 29/12/2009 (có độ tuổi 13 tuổi 06 tháng) đã tự nguyện giao cấu với nhau 01 lần. Hậu quả: em Huỳnh Thị Kim N1 mang thai, đến ngày 18/05/2024 thì em N1 đã sinh ra 01 bé gái tại Trung tâm y tế huyện X. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Quang V đã phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương cũng như băng hoại đạo đức xã hội. Em N1 tuy tự nguyện để V thực hiện hành vi giao cấu nhưng tại thời điểm tháng 6/2023 em vẫn còn trong độ tuổi vị thành niên, còn non nớt về nhận thức và suy nghĩ, chưa thể tự bảo vệ được bản thân, trước các vấn đề xã hội. Bị cáo V nếu xác định yêu em N1 thật lòng thì phải xây dựng nền tảng vững chắc cho tình yêu, cho tương lai của cả hai về sau và cũng như có ý thức bảo vệ sức khỏe, giữ gìn cho em N1. Tuy nhiên, bị cáo lại chọn cách yêu khác bằng nỗi đam mê thỏa mãn nhu cầu nhục dục của bản thân. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã có trách nhiệm nuôi dưỡng bị hại và bé gái do bị hại sinh ra; gia đình có hoàn cảnh khó khăn; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp bị hại đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xét.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được chấp nhận. Riêng đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung thì Hội đồng xét xử không nhất trí.
[8] Xét quan điểm đề nghị của bà Vũ Thùy D1 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại và của Luật sư Trần Văn D2 là người bào chữa cho bị cáo Lê Quang V phù hợp với nhận định trên nên được ghi nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo Lê Quang V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Quang V phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt: bị cáo Lê Quang V 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2024.
- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Quang V phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo Lê Quang V, đại diện hợp pháp cho bị hại và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tùng |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (hình sự)
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
