|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST
Ngày 21-02-2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Nguyễn Thị Luyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường L, quận A, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Anh OH J, sinh năm 1974; địa chỉ: 1337 Beonji Nansan-ri Seongsan-eup Seogwipo-si tỉnh tự trị đặc biệt Jeju, Hàn Quốc.
Chị Nguyễn Thị L và anh OH J đều vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh OH J kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện A (nay là quận A), thành phố Hải Phòng vào ngày 13/05/2024. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống tục xin visa, chị L và anh OH J thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, tính cách, ngôn ngữ. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 6/2024 đến nay, hiện không còn liên lạc. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, chị L và anh OH J thống nhất ly hôn và chị đề nghị Tòa án thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh OH J.
Về con chung: Anh OH J và chị L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh OH J và chị L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn xin ly hôn, Đơn xin xét xử vắng mặt (đã được hợp pháp hóa lãnh sự), bị đơn là anh OH J trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh OH J và chị Nguyễn Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện A (nay là quận A), thành phố Hải Phòng vào ngày 13/05/2024. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc trong một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp về tính cách, bất đồng ngôn ngữ, sống chung không có hạnh phúc. Anh OH J nhận thấy tình cảm không còn, sống mỗi người một nơi nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
Về con chung: Anh OH J và chị L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh OH J và chị L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh OH J đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt và ủy quyền cho chị Nguyễn Thị L nhận thay các thông báo, quyết định, bản án của Tòa án và cam đoan không khiếu nại, không kháng cáo đối với quyết định, bản án sơ thẩm.
Do chị L, anh OH J đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.
Tại phiên tòa, chị L và anh OH J vắng mặt, chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án về tranh chấp ly hôn. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L hiện nay đang sinh sống ở Hải Phòng, bị đơn là anh OH J, quốc tịch Hàn Quốc, hiện nay đang sinh sống tại Hàn Quốc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh OH J vắng mặt và cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh OH J và chị Nguyễn Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện A (nay là quận A), thành phố Hải Phòng vào ngày 13/05/2024 là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cả hai anh chị cùng thừa nhận trong quá trình sau khi kết hôn, vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm sống, tính cách không hợp, bất đồng ngôn ngữ. Nhận thấy anh chị hiện đã sống ly thân mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng của cả hai bên không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ nên anh chị cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Xét thấy việc chị L xin ly hôn anh OH J là tự nguyện, căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh OH J.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh OH J không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh OH J không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L và anh OH J được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh OH J.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh OH J không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh OH J không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001050 ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Anh OH J được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
