|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày 20-02-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà
Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
Ông Đỗ Xuân Quyết
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Đậm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2015/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1991 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Số I, lô A, tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Tổ B phường V, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến H và bà Lê Thị C; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/9/2024; chuyển tạm giam ngày 20/9/2024; có mặt;
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến Đ: Bà Bùi Thị Kim D – Luật sư Văn phòng L2 và Liên danh thuộc Đoàn luật sư thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Bị hại:
+Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt;
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm A xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; vắng mặt;
+ Bà Trần Thị Q, sinh năm 1975; địa chỉ: Xóm B xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; vắng mặt;
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: Xóm A xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên từ tháng 9/2020 đến tháng 12/2023, Nguyễn Tiến Đ đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của 04 bị hại với tổng số tiền là 984.301.000 đồng, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Năm 1995 bà Nguyễn Thị C1 đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang N2, năm 2008 bà C1 có chuyển tiền về nhờ anh trai là ông Nguyễn Văn H1 mua hộ mảnh đất số A H, quận K, thành phố Hải Phòng. Vì thiếu tiền nên bà C1 nhờ ông H1 vay hộ số tiền 50.000.000 đồng để đủ tiền mua được lô đất trên. Năm 2020, bà C1 gọi điện về để gửi trả tiền, ông H1 bảo đã bán lô đất trên để trừ vào tiền vay, số tiền bán đất còn lại ông đưa cho Nguyễn Văn Q1 là cháu bà C1 cất giữ hộ. Bà C1 không đồng ý và có ý định lấy lại căn nhà trên. Qua Đinh Văn T1, sinh năm 1989 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1968, trú tại xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, bà C1 biết Nguyễn Tiến Đ và được giới thiệu Đ hiện là Công an công tác tại phòng Hậu cần Công an thành phố H. Bà C1 nhờ Đ lấy lại giúp mảnh đất trên, Đ đồng ý và bảo chi phí hết 350.000.000 đồng. Bà C1 đã vay và nhờ bà Phạm Thị N chuyển vào tài khoản cho Đ. Sau khi bà C1 chuyển đủ số tiền thì Đ gửi qua Zalo hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô đất số A H, quận K, thành phố Hải Phòng có tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị C1. Đ yêu cầu bà C1 phải trực tiếp về Việt Nam để lấy giấy chứng nhận trên từ chính quyền, nếu không về được thì làm thủ tục nhận Đinh Văn T1 là con nuôi và uỷ quyền cho T1 nhận Giấy chứng nhận. Sau đó Đ lại nói chính quyền không chấp nhận uỷ quyền mà yêu cầu bà C1 phải trực tiếp về lấy. Do thời điểm này đang bùng phát dịch bệnh Covid 19 nên Đ bảo bà C1 chuyển cho Đ 40.000.000 đồng để Đ lo thủ tục cho bà Cát B từ Nga về Việt Nam. Sau khi nhận tiền, Đ bảo không mua được vé nên bà Cát T2 bỏ tiền nhờ người mua vé về Việt Nam. Sau đó, Đ tiếp tục yêu cầu bà C1 chuyển thêm tiền để Đ đuổi người đang ở trên thửa đất kia đi, bà C1 tin tưởng nên đã vay của ông Phạm Văn T3, sinh năm 1955, trú tại 1 T, D, Lê C2, Hải Phòng số tiền 60.000.000 đồng và 7.600 USD (tương đương số tiền 175.751.000 đồng) đưa trực tiếp cho Đ, nhờ bà Mai Thị L1, sinh năm 1971, trú tại: Thôn F, D, T, A (cùng lao động tại C liên bang Nga) chuyển vào tài khoản của Đ số tiền 130.000.000 đồng và nhờ cháu là Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1984, trú tại thôn A Đ, S, Hà Nội chuyển vào tài khoản của Đ số tiền 180.000.000 đồng. Đến cuối tháng 12/2021, Đ nói với bà C1 không làm được việc như đã hứa và không trả lại tiền, nên bà C1 làm đơn tố cáo hành vi phạm tội của Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H.
Xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai quận K xác định: Không tìm thấy thông tin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 528007, số vào sổ cấp GCN: CS07356 do ông Trần Quang M ký (theo giấy chứng nhận bà C1 gửi Cơ quan điều tra). Năm 2020, không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai tên Nguyễn Thị C1.
Về nguồn gốc thửa đất số 16 H: Năm 2006, ông Phan Ngọc Đ1 được Công ty cổ phần V nhượng bán thanh lý cho gian nhà số H thuộc dãy nhà 9 gian đường H, B, K, Hải Phòng (nay là số A H) theo Quyết định số 08/2006/QĐ-TTTSCĐ ngày 31/10/2006. Năm 2008, ông Phan Ngọc Đ1 bán lại căn nhà trên cho ông Nguyễn Văn H1 (anh trai bà C1). Đến năm 2019, bà Dương Thị T4 là vợ ông Nguyễn Văn H1 đã bán lại căn nhà trên cho anh Đỗ Văn B1, sinh năm 1978, trú tại B, K, Hải Phòng; anh B1 sử dụng ngôi nhà trên đến nay. Hiện thửa đất trên chưa được Cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 5915/KL-KTHS ngày 29/8/2023 và Kết luận số 6949/KL ngày 17/9/2024 của V1 Bộ C3 kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file mẫu cần giám định. Tiếng nói của người đàn ông xưng "cháu" trong tệp âm thanh gửi cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Tiến Đ là của cùng một người. Nội dung hội thoại được dịch ra thành văn bản.
Quá trình điều tra xác định Nguyễn Tiến Đ sử dụng số điện thoại 0913.150.xxx đăng ký tài khoản mạng xã hội Zalo với các tài khoản tên: Joker; ICY. Đã trích xuất một số nội dung tin nhắn có liên quan giữa Phạm Thị N, Đinh Văn T1, Phạm Thị Kim N1, Mai Thị L1, Nguyễn Thị C1 với Zalo của Đ thể hiện nhiều tin nhắn phù hợp với nội dung trình báo của bà Nguyễn Thị C1.
Xác minh tại Công ty Cổ phần V2 cung cấp: Số điện thoại 0913.150.xxx là tài khoản “Joker” trước ngày 10/7/2022. Trong khoảng từ 10/7/2022 đến 09/9/2022 đổi thành "Joke”.
Vụ thứ hai: Năm 2022, thông qua mạng xã hội face book, zalo, chị Nguyễn Thị L quen biết Nguyễn Tiến Đ nên thường xuyên nói chuyện qua zalo, facebook nên Đ biết chị L có nhu cầu muốn đi nước ngoài xuất khẩu lao động, Đ nói với chị L gia đình mình có công ty làm đẹp và làm nông nghiệp tại Canada với mức lương 4.800 USD/1 tháng (tương đương khoảng hơn 90.000.000 đồng), Đ sẽ bảo lãnh và trực tiếp làm thủ tục cho chị L sang lao động tại Canada. Ngày 02/10/2023, chị L chuyển cho Đ 4.000.000 đồng để đặt cọc tiền vé máy bay và rủ thêm chị Nguyễn Thị T5 cùng đi xuất khẩu lao động. Ngày 09/10/2023, Đ hẹn chị L, chị T5 tại nhà hàng “Ba Ba Đất Cảng” trên đường T, V, Lê C2, Hải Phòng. Tại đây, để tạo lòng tin, Đ cho chị T5, chị L xem căn cước công dân và bảo chị L, chị T5 phải chuyển cho Đ mỗi người 50.000.000 đồng để mua vé máy bay, làm thủ tục hồ sơ nhưng chỉ cần đặt cọc tiền vé máy bay, số tiền khác có thể thanh toán sau khi sang Canada.
Sau khi gặp Đ, biết chị Trần Thị Q cũng có nhu cầu đi lao động tại nước ngoài nên chị T5 đã cho chị Q số điện thoại của Đ để liên hệ. Ngày 10/10/2023, Đ hẹn gặp chị Q, chị T5 tại quán café ở số A N, Kênh D, Lê C2, Hải Phòng, tại đây chị Q, chị T5 đã chuyển vào tài khoản của Đ số tiền 20.000.000 đồng (mỗi người 10.000.000 đồng).
Sau đó, Đ chuyển cho các chị T5, Q, L hình ảnh đặt vé máy bay của hãng hàng không và lịch hẹn lăn tay làm visa, vì vậy chị T5 đã chuyển thêm cho Đ số tiền 4.950.000 đồng, chị Q chuyển thêm số tiền 20.100.000 đồng. Còn chị L vì không có tiền nên chưa chuyển thêm cho Đ. Sau đó, các chị T5, L, Q kiểm tra không thấy có thông tin của mình trên Cục di trú, liên lạc với Đ thì Đ tắt máy, biết mình bị lừa nên các chị T5, L, Q đã đến Công an phường K, quận L trình báo sự việc.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến Đ khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các chị Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị T5, Trần Thị Q phù hợp với lời khai của các chị L, T5, Q và với nội dung nêu trên.
Đối với việc lừa đảo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị C1, Đ khai có quen biết với bà Nguyễn Thị C1 qua Đinh Văn T1 nhưng không nhận tiền và hứa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C1. Đ khẳng định có sử dụng và có đăng ký Zalo số điện thoại 0913.150.xxx tuy nhiên được đăng nhập trên nhiều thiết bị nên thông tin không được bảo mật. Đ có đăng ký sử dụng 02 tài khoản ngân hàng 0900100199999 tại MB và tài khoản 0031000622968 tại V3 nhưng cho nhiều người mượn sử dụng tài khoản và thẻ rút tiền. Đ không nhớ những lần có tiền chuyển vào tài khoản như theo trình báo của bà C1. Đ không nhận bất kỳ khoản tiền nào từ bà C1 hay người nhà bà C1 để giúp bà C1 làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, Đ trình bày bản thân là Đảng viên Đ2, từng làm trong lực lượng Công an nhưng không bao giờ giới thiệu mình làm ở Công an H.
Quá trình điều tra và tại đơn tố giác bà Nguyễn Thị C1 trình bày: Nguyễn Tiến Đ nói có thể làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đuổi người đang sống trên mảnh đất bà đã mua đi nên bà tin tưởng nhờ người quen là Phạm Thị N, Mai Thị L1, Phạm Thị Kim N1, ông Phạm Văn T3, Đinh Văn T1, Nguyễn Văn Q1 chuyển cho Đ số tiền 935.251.000 đồng. Sau đó, bà cũng nhiều lần đưa tiền mặt cho Đ (không nhớ chính xác thời gian), tổng số tiền bà đưa cho Đ là 1.060.000.000 đồng. Những người làm chứng bà Phạm Thị N, bà Mai Thị L1, bà Phạm Thị Kim N1, ông Phạm Văn T3, ông Đinh Văn T1, ông Nguyễn Văn Q1 khai phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị C1.
Mặc dù Nguyễn Tiến Đ không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng căn cứ vào lời khai của bị hại bà Nguyễn Thị C1 phù hợp với lời khai của những người làm chứng ông Nguyễn Văn T6, bà Phạm Thị N, bà Mai Thị L1, phù hợp với tài liệu sao kê ngân hàng, tài liệu giám định giọng nói, trích xuất dữ liệu điện tử, xác định: Từ năm 2020 đến năm 2021, Nguyễn Tiến Đ đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị C1 số tiền 935.251.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu cam đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tiến Đ chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng quản lý, phục vụ xét xử.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị C1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.060.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị L, Trần Thị Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKS-P1 ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ từ 14 – 15 năm tù.
Do bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
- + Tại phiên tòa, bà C1 có quan điểm yêu cầu bị cáo Đ bồi thường số tiền 935.251.000 đồng. Do đó, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bà C1 số tiền trên.
- + Chị Nguyễn Thị T5, chị Nguyễn Thị L, chị Trần Thị Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra vấn đề giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định: Tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu cam đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tiến Đ.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với bà Nguyễn Thị C1 mà chỉ thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với chị Nguyễn Thị T5, chị Nguyễn Thị L, chị Trần Thị Q như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; gửi bài bào chữa với quan điểm: Thống nhất với tội danh, điều khoản truy tố của Viện Kiểm sát; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại là bà Nguyễn Thị C1 có quan điểm tại phiên tòa: Yêu cầu bị cáo bồi thường cho bà số tiền đã chiếm đoạt là 935.251.000 đồng; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo chịu số tiền lãi của số tiền trên theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Bị hại là chị Nguyễn Thị T5, chị Nguyễn Thị L, chị Trần Thị Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; người bào chữa cho bị cáo vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của người bào chữa, bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 291 và Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh và khung hình phạt:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2020 đến tháng 12/2023, Nguyễn Tiến Đ đã có hành vi gian dối lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T5 14.950.000 đồng, chị Trần Thị Q số tiền 30.100.000 đồng, chị Nguyễn Thị L số tiền 4.000.000 đồng. Mặc dù bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội đối với bà Nguyễn Thị C1 nhưng căn cứ vào lời khai của bà C1, những người làm chứng, tài liệu sao kê ngân hàng, tài liệu giám định giọng nói, trích xuất dữ liệu điện tử, đủ căn cứ xác định từ năm 2020 đến năm 2021, Nguyễn Tiến Đ đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị C1 số tiền 935.251.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Tiến Đ chiếm đoạt của 04 bị hại là 984.301.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do giá trị tài sản chiếm đoạt là 984.301.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[4] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; chiếm đoạt số tiền lớn gây thiệt hại về kinh tế cho bị hại. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội với nhiều bị hại, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đối với các bị hại là các chị T5, L, Q nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho các chị T5, L, Q. Các chị T5, L, Q có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[9] Tại giai đoạn điều tra, bà Nguyễn Thị C1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.060.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà C1 chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 935.251.000 đồng. Yêu cầu này của bà C1 hoàn toàn phù hợp với tài liệu xác minh, thu thập được tại giai đoạn điều tra. Do đó, có căn cứ buộc bị cáo phải bồi thương cho bà C1 số tiền 935.251.000 đồng. Qúa trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại là chị Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị L, Trần Thị Q toàn bộ số tiền chiếm đoạt. Chị T5, L, Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra vấn đề giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
[10] 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu cam đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tiến Đ được sử dụng trực tiếp để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[11] Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm;
- Về quyền kháng cáo:
[12] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/9/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị C1 số tiền 935.251.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong nếu bị cáo chưa thi hành xong số tiền phải bồi thường thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu cam không xác định được imei do máy có mật khẩu; 01 sim trên sim có số 89840200011651655209.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 01 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo phải chịu 40.057.530 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo Nguyễn Tiến Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN |
|
Đỗ Xuân Quyết |
Phạm Thị Thanh Bình |
|
Vũ Thị Minh Nguyệt |
|
|
Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN HSST NGUYỄN TIẾN ĐẠT
