Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 18/02/2025.

V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Tuấn; Ông Võ Thanh Nhàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 866/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024, về việc “tranh chấp ly hôn - nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1985; nơi cư trú số 111 tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Ngô Hải Y, sinh năm 1992, nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông P trình bày: ông và bà Y quen biết, tìm hiểu tiến tới hôn nhân năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, vợ chồng chung sống đến năm 2022 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và không còn chung sống với nhau. Nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với bà Ngô Hải Y. Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày 16/7/2012, hiện con chung đang sinh sống với bà Y, khi ly hôn đồng ý để bà Y tiếp tục chăm sóc nuôi chung, ông không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn bà Ngô Hải Y trình bày: bà và ông P quen biết và kết hôn vào năm 2011 và chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không phù hợp nên bà bỏ về nhà cha mẹ ruột để sinh sống. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông P xin ly hôn bà đồng ý. Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày 16/7/2012, hiện con chung đang sinh sống với bà; khi ly hôn yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Ông Phương bà Y kết hôn có đăng ký kết hôn nên hôn nhân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn ông P xin ly hôn bà Y đồng ý đề nghị hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn; về con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày 16/7/2012 bà Y yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con là phù hợp đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận. Về tài sản chung, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về nội dung tranh chấp: Ông P và bà Y kết hôn có đăng ký kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo ông Phương trình B, vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không phù hợp nên thường xuyên cự cãi và không còn chung sống với nhau nhận thấy tình cảm không còn ông P xin ly hôn bà Y đồng ý. Xét thấy, sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa ông P bà Y là tự nguyện căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của ông P và bà Y.

[3] Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày 16/7/2012, hiện con chung đang sinh sống với bà Y; khi ly hôn ông P đồng ý để bà Y tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung; Xét thấy con chung do bà Y chăm sóc nuôi dưỡng đã ổn định; Tòa án ghi nhận ý kiến cháu Nguyễn Duy K nguyện vọng của cháu mong muốn được tiếp tục chung sống với bà Y. Vì vậy, nghĩ nên giao con chung cho bà Y nuôi dưỡng.

Bà Y yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành. Xét thấy, bà Y yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là phù hợp Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, ông P không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Về mức cấp dưỡng nuôi con căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.725.000đ. Vì vậy, nghĩ nên buộc ông P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ hàng tháng số tiền là 1.725.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành.

[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

[5] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông P tự nguyện chịu là 150.000đ; án phí cấp dưỡng nuôi con ông P phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Duy P và bà Ngô Hải Y.

Về quan hệ con chung: Bà Ngô Hải Y được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày 16/7/2012.

Ông Nguyễn Duy P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ hàng tháng số tiền là 1.725.000 đồng/tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo các trường hợp quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Y cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về quan hệ tài sản chung: các bên không yêu cầu giải quyết.

Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc ông P bà Y xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì ông P, bà Y phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí: Ông Nguyễn Duy P chịu án hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 150.000 đồng và phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ, tổng cộng 450.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0023863 ngày 24/12/2024; Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới phải nộp tiếp số tiền 150.000 đồng.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân gia đình - ly hôn

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân Gia đình - Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn xin ly hôn vì tình cảm không còn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger